Bài Giảng


ĐẦU ÓC NGƯỜI THẾ TỤC
Công Vụ 26:8-32

 

Chúng ta là những người hòan tòan tin tưởng vào sự sống lại của Chúa Jesus. Nhưng rất nhiều người vẫn không tin điều này. Họ đồng ý Jesus là một giáo sư đạo đức lỗi lạc,  một lãnh đạo tinh thần tài ba, làm nhiều phép lạ nhưng không tin Chúa sống lại.

Hôm nay, trong ngày Chúa Phục sinh, tôi cố gắng ôn lại lý do tại sao chúng ta tin rằng Chúa Jesus đã sống lại để anh chị em chúng ta vững lòng nếu phải tranh luận về một vấn đề thần học tối quan trọng của Cơ đốc giáo.
Phao-lô trong lá thư thứ nhất gởi cho Hội Thánh Cô-rinh-tô đã khẳng định như sau:
“14  Lại nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích. 15  Lại nếu kẻ chết quả thật không sống lại, thì Đức Chúa Trời đã chẳng khiến Đấng Christ sống lại, mà chúng tôi đã làm chứng trái với Đức Chúa Trời rằng Ngài đã làm cho Đấng Christ sống lại, té ra chúng tôi làm chứng dối cho Đức Chúa Trời. 16  Vì nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì Đấng Christ cũng đã chẳng sống lại nữa. 17  Và nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình. 18 Vậy, những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời. 19  Nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Đấng Christ về đời nầy mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết. I Cô-rinh-tô 15”13-19
Hai lần trong câu 14 và 17, Phao lô đặt giả thuyết :” Nếu Đấng Christ không sống lại thì sao ? Phao-lô trả lời :

  1. Sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công -14
  2. Chúng tôi là những kẻ nói dối -15
  3. Đức tin của anh em là vô ích - 17
  4. Chúng ta vẫn sống trong tội lỗi, hư mất đời đời -18
  5. Trong tất cả mọi người, chúng ta là người thiệt thòi nhất. -19

Vì vậy, chúng ta  là những Cơ đốc nhân phải thấu đáo và thông suốt vấn đề này               Để chứng minh Chúa Jesus sống lại, chúng ta phải chứng minh hai điều:

  1. Chúa đã chết
  2. Sau khi chết, người ta vẫn còn thấy Chúa..

Tôi đã cung cấp những lý luận về y học và dữ kiện để chứng minh Chúa Jesus đã chết thật. Kinh Thánh ghi lại 12 lần Chúa xuất hiện sau khi Chúa chết (10 lần trước khi thăng thiên và 2 lần sau đó) . Tuy nhiên đối với những người không tin Kinh Thánh là quyển sách ghi lại lời của Đức Chúa Trời nên chúng ta phải dùng thêm những chứng cớ khác.
Chứng cớ có giá trị nhất là cuộc sống của các môn đồ sau khi Chúa thăng thiên.
CHỨNG CỚ THỨ NHẤT – MÔN ĐỒ
Khi Chúa Jesus chết, các môn đồ của Ngài rất thất vọng và mất tinh thần vô cùng. Họ không còn tin rằng Jesus là Ðấng do Ðức Chúa Trời gởi xuống. Theo người Do Thái, người bị đóng đinh là những người bị Ðức Chúa Trời rủa sả. Họ cũng được dạy rằng Ðức Chúa Trời sẽ không để Ðấng Mêsia bị chết trong đau đớn. Phong trào của Chúa Jesus hòan tòan bị tê liệt và ngưng họat động. 
Rồi sau đó chỉ một thời gian rất ngắn, chúng ta thấy họ bỏ nghề nghiệp của họ, nhóm họp lại và đồng tâm hứa nguyện cùng nhau phổ biến, cổ vũ , phát triển một thông điệp đặc biệt: Chúa Jesus Christ là Ðấng Mê-sia của Ðức Chúa Trời,  người đã chết trên cây thập tự, sống lại và chính họ đã thấy, tiếp xúc, nói chuyện và ăn uống chung với Ngài. 
Họ chấp nhận dùng cuộc đời còn lại của họ cho thông điệp này mà không cần nhận lãnh hay được đền bù lại bất cứ điều gì gọi là thù lao theo con mắt của thế gian.  Họ không chờ đợi sự vinh hoa phú quý của đời này mà ngược lại họ đối diện với muôn vàn khó khăn. Họ thường gặp cảnh đói khổ, thiếu ngủ, thiếu mọi thứ cần dùng gọi là tối thiểu trong đời sống con người để chỉ gặp sự chế diễu, cười chê, đánh đập, tù đày và cuối cùng hầu hết bị tra tấn đến chết. 
Tại sao họ thay đổi và chấp nhận một đời sống như vậy? Họ có mục đích gì? Chắc chắn, không còn nghi ngờ gì hết là họ đã thấy Chúa của họ sống lại như lời họ đã công bố .  
Có thể nào họ chấp nhận tử đạo cho một Giáo chủ bất lực để binh lính bắt, bị đánh đập, bị sĩ nhục khắp phố phường, bị đeo bảng tội nhân, lê lết trên con đường đến đồi Gô-gô-tha rồi bị đóng đinh chết như một nô lệ, một tội phạm giết người và họ phải tổ chức hối lộ lính La mã để lấy xác rồi tuyên bố rằng Chúa Jesus của họ đã sống lại.  
Chúng ta không còn cách nào khác để giải thích cho một nhóm người quá đặc biệt này nếu họ không có kinh nghiệm về sự sống lại của Chúa Jesus. 
CHỨNG CỚ  2:  SỰ THAY ÐỔI CỦA NHỮNG KẺ CHỐNG ÐỐI 
Một điều đáng nói thêm là có những người không tin và quyết liệt chống đối Chúa Jesus trước khi Ngài bị đóng đinh và phần nào dính dáng với cái chết của Ngài, đã thay đổi 180 độ và trở thành Cơ đốc nhân sau khi Ngài chết.  
Tôi muốn nói ở đây hai nhân vật quan trọng: đó là Gia cơ và Phao Lô 

  1. Gia cơ là em của Chúa Jesus.  Gia đình của Chúa Jesus không tin khi Chúa Jesus xưng mình là ai. Họ không những không tin mà còn đương đầu chống lại.  Trong thời đó, một rabi mà bị gia đình chống đối là một khó khăn vì vậy khi Kinh Thánh Phúc âm viết về điều chống đối này, một điều bất lợi cho Chúa Jesus vì đó là một sự thật.  Sau này, sử gia độc lập là Josephus có ghi lại rằng Gia cơ, em của Chúa Jesus là người lãnh đạo Hội Thánh Jerusalem và bị ném đá chết vì tin vào sự sống lại của Jesus.  Tại sao Gia cơ thay đổi  như vậy? Chắc chắn Gia cơ đã chứng kiến Chúa Jesus sống lại. 
  1. Nhân vật  thứ hai là Phao lô. Ông là một người Pharisee, thành viên Tòa Công luận là nơi kết án Chúa Jesus, ông ghét những gì thay đổi truyền thống hay trật tự hiện hữu. Dĩ nhiên ông không chấp nhận phong trào Cơ dốc giáo vì đó là điều phản nghịch lại đất nước của ông. Do đó ông hành động chống đối lại nhóm này và nhúng tay vào việc tiêu diệt nhóm này nếu có cơ hội. 

Thình lình, ông thay đổi. Không những ông dễ dãi với nhóm Cơ đốc nhân mà còn gia nhập nhóm này nữa.  Và ông hy sinh cả cuộc đời còn lại của ông để đi khắp các nước Tiểu Á, Hy Lạp, La mã để rao giảng đạo Chúa . Tại sao điều này đã xảy ra ?  Ông đã viết ra trong lá thơ gởi cho Hội Thánh Ga-la-ti rằng ông đã thấy Chúa Jesus là Ðấng đã sống lại và Ðấng đã chỉ định công tác cho ông. 
Thưa Hội Thánh
Đó là những chứng cớ chúng ta chuẩn bị sẵn để thuyết phục những người không tin Chúa sống lại.  Tuy nhiên, dù có trình bày bao nhiêu chứng cớ, thế gian vẫn không tin vì họ có trái tim trần tục và một đầu óc thế tục. Họ không bao giờ nghĩ rằng một người chết có thể sống lại. Dù người đó là Đức Chúa Trời.
Điều này cũng không thể trách họ vì ngay những người gần gũi với xác của Chúa nhất , những người chứng kiến cảnh Chúa sống lại vẫn không tin. Tôi muốn nói trường hợp
NHÓM THƯ NHẤT: CÁC NGỪƠI LÍNH CANH MỘ CHÚA

Ma-thi-ơ viết rằng các anh lính canh tại ngôi mộ của Chúa chứng kiến mọi điều xảy ra. Họ là những người duy nhất thấy cảnh Chúa sống lại .

Ma-thi-ơ viết: đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn hòn đá ra mà ngồi ở trên.3  Hình dong của thiên sứ giống như chớp nháng, và áo trắng như tuyết.4  Vì đó, những lính canh sợ hãi run rẩy, trở nên như người chết.”  ( Ma-thi-ơ 28:2-4)

Các tên lính chứng kiến cảnh Chúa sống lại. Họ thấy đất rùng động, họ thấy thiên sứ trên trời xuống. Họ thấy các thiên sứ lăn hòn đá và có thể họ thấy Chúa bước ra . Họ thấy Chúa sống lại và họ run rẫy, kinh hải như người chết.

Đáng lẽ ra, khi chứng kiến cảnh lạ lùng , kinh hải như vậy,  họ phải quỳ xuống mà van xin Chúa : “ Lạy Chúa, chúng con đã lỗi lầm đóng đinh Chúa, làm nhục Chúa. Xin Chúa tha thư cho và bây giờ con tin Chúa là con của Đức Chúa Trời…”

Nhưng điều đó không xảy ra. Và chúng ta biết thêm rằng sau đó bọn lính canh này bỏ ngôi mộ trống mà

“  vào thành thuật lại cho các thầy tế lễ cả biết mọi việc đã xảy đến. 12  Các thầy bèn nhóm lại cùng các trưởng lão đặng bàn luận, xong rồi, thì họ cho những lính đó nhiều tiền bạc, 13  mà dặn rằng: Các ngươi hãy nói rằng: Môn đồ nó đã đến lúc ban đêm, khi chúng tôi đương ngủ, mà lấy trộm nó đi. 14  Nếu điều ấy thấu tai quan tổng đốc, thì chúng ta sẽ khuyên giải người, và làm cho các ngươi khỏi lo sợ. 15  Mấy tên lính đó lấy bạc, và làm theo như lời.”. Ma-thi-ơ 28:11-15

Họ lấy tiền và nói dối.
Thật lạ lùng cho con người.
Chính họ chứng kiến cảnh kinh thiên động địa, chính họ thấy động đất khi Chúa Jesus sống lại, chính họ thấy thiên sứ sáng ngời đẩy hòn đá lấp của mộ. Vậy mà vì tiền, họ phủ nhận sự thật và phạm thêm tội nói dối. 

Ngày hôm nay, biết bao nhiêu người đã sống cuộc sống như các tên lình đó,
Họ thấy phép lạ,. Họ thấy quyền năng của Đức Chúa Trời. Họ thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời qua sự vật trên trái đất, trên vũ trụ, qua cơ thể con người, thú vật muôn loài. Họ vẫn phủ nhận vai trò của Tạo Hóa, từ chối thờ phượng Đấng Tạo hóa  và tiếp tục thờ phượng, bái lạy hình tượng do con người làm ra.

Nếu quý vị có mặt tại nơi mộ Chúa ngày Chúa nhật hôm đó,  chứng kiện những sự kiện như người lính canh đó, quý vị có tin Chúa đã sống lại không ?

Và nếu không tin thì Chúa phải làm thêm điều gì để quý vị tin Ngài ?
Hãy nghe câu chuyện của quan Tổng đốc Phê-Tu và Phao-lô mà sách Công vụ 25-26 có ghi rất chi tiết và rất hào hứng.
NHÂN VẬT THỨ HAI : TỔNG ĐỐC PHÊ-TU
Năm đó là năm 59 hoặc 60 sau công nguyên. Ông được cử làm Tổng đốc xứ Giu-đa thay thế Tổng đốc Phê-lít. Phê tu còn trẻ , 39 tuổi. Mục đích và cũng là nhiệm vụ của ông là giữ cho vùng đất này bình an, không xáo trộn .  Dinh Tổng đốc tại Sê-sa-rê. Vừa đến được 3 ngày, ông ta đi ngay đến Jerusalem cách nơi ông ta ở khỏang 60 dặm để tiếp xúc với Tòa Công luận và tìm hiểu dân tình. Điều này chứng tỏ Phê-tu là một quan Tổng đốc hăng hái làm việc và tôn trọng Tòa Công Luận.
MÀN THỨ NHẤT
Tại đây ông gặp rắc rối đầu tiên.  Họ nêu một yêu cầu. Đó là giải giao một tù nhân người Giu-đa có quốc tịch La-mã  từ Sê-sa-rê về Jerusalem để xử xét. Ông tuy mới nhận chức nhưng có lẽ ông cảm thấy có điều gì bí ẩn bên trong nên ông không từ chối mà cũng không chấp nhân. Ông bảo rằng ông sẽ đích thân xem xét vụ này ngay khi ông trở về Sê-sa-rê. Tù nhân có quốc tích La-mã đó chính là Phao-lô.  Phao-lô bị giam tại Sê-sa-rê đã 2 năm từ thời Tổng đốc trước là Phê-lít. Phê-tu còn cho biết nếu muốn kiện cáo gì thì đến đó mà trình bày. Ông hứa sẽ cứu xét. Khi ông trở về Sê-sa-rê thì ngày hôm sau, ông mang vụ án Phao-lô đăng đường, xét xử và truyền mang Phao-lô đến trình diện. Lần nữa, quả thật ông ta làm việc rất có hiệu năng
MÀN THỨ HAI
Trong phiên tòa này, Công vụ 25:7 ghi rằng “có các người Giu-đa ở thành Giê-ru-sa-lem xuống vây bọc người, lấy nhiều cớ nặng mà thưa, nhưng chẳng tìm được chứng.”  Họ không đưa ra một chứng cớ nào để buộc tội Phao-lô vì những điều họ tố cáo không đúng sự thật.
Phao -lô chì dản dị nói: Tôi vô tội :.
Tôi chẳng từng làm điều dữ chi, hoặc nghịch cùng luật pháp người Giu-đa, hoặc nghịch cùng đền thờ, hay là nghịch cùng Sê-sa.”
Phê-tu vẫn muốn cho người Giu-đa thấy ông chìu lòng họ nên hỏi Phao-lô có muốn đến Jerusalem để chịu xử tại đó không ?
Chúng ta chớ vội cho Phê-tu là người xấu. Ông là một Tổng đốc mới. Ông không biết rõ Phao-lô là ai, luật pháp của Giu đa như thế nào . Vụ án này gần như có điều gì bí ẩn nên đem ra xử tại Jerusalem cũng là điều tốt nên ông hỏi ý kiến của bị cáo.
Phao lô trả lời : «  Tôi là người La-mã, tôi phải được xử ở đây. Nếu tôi có tội xin xử theo luật La-mã, còn như tôi vô tội, xín đừng giao tôi cho họ. Rồi ông nói điều một điều thay đổi cuộc diện : « Tôi kêu nài sự đó đến Sê-sa. »
Trong thời đó, bất cứ công dân La-mã nào cũng có quyền chống án lên nhà vua nếu họ thấy không được xét xử công bình ở phiên tòa dưới. Một khi bị cáo nêu vấn đề chống án, bị cáo không thể thay đổi được vì luật pháp muốn bảo vệ bị cáo vì bị áp lực mà thay đổi ý kiến.
MÀN THỨ BA
Đến đây một nhân vật thứ ba xuất hiện. Đó là vua Ạc-ríp-ba và em gái vua là Bê-rê-nít. Chúng ta biết ông ta là Ạc-ríp-ba Đệ Nhị,. Ông là người cuối của dòng Ạc-ríp-ba. Ông cố nội của ông là Ạc-ríp-ba đại đế, người ra lệnh giết các em bé sơ sanh  vùng Bêt-lê-hem khi Chúa Jesus giáng sinh.  Vua Hê-rốt An-ti-ba là em của ông nội ông là người có mặt trong vụ án xử Chúa Jesus. Còn cha của ông là vua Hê-rốt Ạc-ríp-ba  Đê Nhất ra lệnh giết Gia-cơ và bỏ tù Phi-e-rơ.
Ạc-ríp-ba Đệ Nhị hiện làm vua một vùng đất nhỏ quanh biển Ga-li-lê. Có lẽ nghe tin có Tổng đốc mới nên cùng em gái đến thăm xả giao.  Ạc-ríp-ba Đệ Nhị còn trẻ thông thạo văn hóa phong tục Giu-đa và muốn được vừa lòng La-mã.
Phê-tu muốn nhân dịp này nhờ vua Ạc-ríp-ba cố vấn. Hãy nghe lời Tổng đốc Phê-tu  tóm lược vụ án: 
«  Đây có một tên tù mà Phê-lít đã để lại. 15  Lúc tôi ở thành Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão dân Giu-đa đến kiện người và xin tôi làm án người đi. 16  Tôi đáp lại rằng người Rô-ma chẳng có lệ giải nộp một người nào mà bên bị cáo chưa đối nại với bên tiên cáo, và người đó chưa có cách thế để chống cãi lời kiện cáo mình. 17  Họ bèn đến đây, thì vừa ngày sau, tôi ra ngồi nơi tòa án, không trễ nải mà truyền dẫn người ấy đến. 18  Các người kiện cáo đều đã có mặt, song không kiện nó về một tội gì như tôi đã dè chừng. 19  Chỉ cáo nó về đạo riêng của họ, và một tên Jêsus đã chết kia, mà Phao-lô quyết rằng còn sống. 20  Trong sự cãi lẫy đó, tôi không biết theo bên nào, nên hỏi Phao-lô muốn đi đến thành Giê-ru-sa-lem, để chịu xử mọi điều ấy tại nơi đó chăng. 21  Nhưng nó đã kêu nài để việc kiện mình lại cho hoàng đế phân xử. Vậy tôi đã truyền giam nó trong ngục đợi tới khi tôi giải cho Sê-sa”.Công Vụ 25 :14-21
Theo lời ông, vụ án này xoay quanh một nhân vật tên là Jesus đã chết như Phao-lô nói còn sống và ông hòan tòan không giải quyết được..

    1. một tên Jêsus đã chết kia, mà Phao-lô quyết rằng còn sống  
    2. trong sự cãi lẫy đó, tôi không biết theo bên nào.

Phê-tu đại diện cho thế giới ngày nay.  

    1. Rất nhiều người không tin Chúa Jesus sống lại nhưng không thấy cần thiết phải tranh luận.
    2. Nếu họ đối diện với chúng ta, họ sẽ không tin và không tranh luận vì họ không biết phãi nói làm sao. Chì dản dị là không tin Chúa Jesus sống lại.

2000 năm sau, họ lắc đầu khi nghe chúng ta lý luận, chứng minh tại sao chúng ta tin. Họ không muốn hiểu vì họ chưa muốn tin.
Ạc-ríp-ba là một nhân vật tò mò. Ông biết luật lệ Giu-đa và biết qua câu chuyện về Chúa Jesus nên ông muốn nghe đich thân Phao –lô nói. Ông nói với Phê-tu :  « Ta cũng muốn nghe người ấy ».  Phê-tu tâu rằng:  « Đến mai vua sẽ nghe »
Ngày mai là dịp vua và tổng đốc ăn mặc chính thức theo nghi lễ của hòang cung và La-mã. Tất cả người quan văn võ đều ăn mặc chỉnh tề. Thật là một quang cảnh trọng đại. Phao-lô được dẫn vào với bộ y phục của tù nhân và chân bị xiềng. Vua cho phép Phao-lô tự biện hộ. Đây là một lời biện hộ hay nhất của một Cơ đốc nhận.
Phao-lô thuật lại sự việc ông trở thành Cơ đốc nhân với sự sống lại của Chúa Jesus. . Câu 26 :4 mà chúng ta làm câu gốc « Ủa nào! các ông há lại ngờ chẳng có thể tin được rằng Đức Chúa Trời khiến những kẻ chết sống lại sao?  
Câu hỏi này Phao lô muốn nói với mọi người rằng : « Nếu quý vị tin Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa thì tại sao không tin Đấng Tạo Hóa có thể làm được bất cứ điều gì kể cà việc làm cho người chết sống lại.
Và câu 26 :22 «  Song nhờ ơn Đức Chúa Trời bảo hộ, tôi còn sống đến ngày nay, làm chứng cho các kẻ lớn nhỏ, không nói chi khác hơn là điều các đấng tiên tri và Môi-se đã nói sẽ đến, 23  tức là Đấng Christ phải chịu thương khó, và bởi sự sống lại trước nhứt từ trong kẻ chết, phải rao truyền ánh sáng ra cho dân sự và người ngoại. »
Phao-lô nói rằng Đức Chúa Trời cho ông sống đến ngày hôm nay là để ông nói lên điều mà các tiên tri và Môi-se đã từng nói đó là Chúa Jesus Christ phải chịu thương khó. Và sẽ sống lại trước nhất trong những kẻ chết
Phê-tu đến đây vội vã chận Phao-lô lại và tuyên bố : « Hỡi Phao-lô, ngươi lảng trí rồi; ngươi học biết nhiều quá đến đỗi ra điên cuồng. »
Phản ứng của Phê-tu là phản ứng của người ở thế gian. Khi một Cơ đốc nhận nói về Khải thị, về tiên tri và về sự Sống Lại của Chúa Jesus người đó bị xem như là người điên cuồng , lãng trí. Đó là lời kết án của người thế gian đối với một Cơ đốc nhân chân chính.
Người trần tục không thể làm khác với Phê-tu. Bởi vì nếu Phao-lô đúng thì Phê tu sai, điều đó không thể nào để nó xảy ra vì ông ta là Tổng đốc. Nếu Phê-tu đúng thì Phao-lô phải là người điên cuồng. Nếu ngừoi thế gian không thể đồng ý với Cơ đốc nhân nên họ phải không tin sự sống lại của Chúa Jesus.
CÂU CHUYỆN BÂY GIỜ.- CHARLES COLSON
Charles Colson, Phụ tá đặc biệt của TT Nixon từ 1969 là một luật sư rất tài ba. Với chức vụ này, ông nổi tiếng là người đa mưu trong việc triệt hạ đối phương của Nixon. Ông dính vào vụ Watergate và đưa ra tòa về tội cản trở luật pháp. Ông bị kết án 3 năm tù nhưng sau 7 tháng trong tù ông được trả tự do ngày 31 tháng 1 1975. Sau đó, với sự giúp đỡ của bạn bè ông thành lập một tổ chức tên là Prison Fellowship truyền giảng tại các khám đường và giúp đỡ các tù nhân. Ông viết rất nhiều sách về Chúa và có chương trình phát thanh hàng ngày Break Point. Ông được 15 trường Đại Học cấp bằng tiến sĩ danh dự. Năm nay ông đã 81 tuổi và từ 1975 đến này ông hòan tòan dành thời gian cho công việc Chúa.
Trước khi có vụ Watergate nổ bùng, tức vào khỏang năm 1972- 73, Colson thường đến thăm Tom Phillips, một người bạn thân và chủ tịch công ty Raytheon. Tom là người có tên tuổi, thành công trên thương trường, gia đình hạnh phúc. Nhà cửa to lớn, xe Mercedes nằm trong garrage., Raytheon là một công ty lớn với hàng chục ngàn nhân viên. Tom là một người ngoan đạo. Phải nói Tom là người của Chúa Jesus thì đúng hơn.  Một người thành công , bận rộn như vậy nhưng Chúa nhật nào cũng có mặt trong lớp trường Chúa nhật.
Điều mà Tom nói với Colson nhiều lần là : Tôi đã hứa giao đời sống tôi cho Chúa.  Chúa là kinh nghiệm vĩ đại nhất trong cuộc đời của tôi.’
Một hôm Tom thân mật hỏi Colson về vụ Watergate. « Chuck ! tôi hỏi thật, trong vụ này anh có liên hệ gì không ? 
Colson trả lời : Chắc không đến nổi nào đâu.  Nhưng những tố cáo đó làm tôi xuống tinh thần. Thật ra tôi thăm anh là để nghe chuyện của anh hơn. Tôi thấy anh thay đổi nhiều và điều gì đã biến đổi anh như vậy ?
Im lặng vài giây rồi Tom bắt đầu kể cuộc đời của anh về quá khứ và sự thành công mau chóng với hãng Raytheon. Anh là Chủ tịch công ty lúc anh 40 tuổi.
“ Anh biết, tôi thành công vì tôi tận lực tận tâm nhưng tôi không thỏa lòng, Tuy sống đầy đủ về vật chất nhưng tôi thấy tôi sống vô nghĩa. Nhiều đêm tôi không ngủ được vì cuộc sống trống không. Tôi chỉ có mục đích là kiếm tiền và chỉ nghĩ đến công việc. Tôi thấy tôi còn thiếu một cái gì quan trọng.  Không hiểu tại sao nhưng tôi thấy tôi cần có một sợi giây liên lạc với Thượng đế vì vậy tôi đọc Kinh Thánh. Tôi muốn tìm kiếm chân lý. “
Câu nói của Tom làm Colson rùng mình như có một luồng điện chạy trong xương sống của mình vì đó là cảm giác của anh hiện nay. Chỉ có điều Colson không tìm kiếm câu trả lời trong vấn đề tâm linh mà Colson tìm trong thế lực chính trị và luật pháp.
Tom kể tiếp: “ một hôm tôi phải đi New York và tôi được biết Billy Graham đang tổ chức một buổi truyền giảng tai công trường Madison. Tôi quyết định đến nghe,  một phần tò mò, một phần muốn tìm cách giải quyết nỗi khoắc khoải trong lòng.  Tối hôm đó Mục Sư Billy Graham cho tôi thấy rõ vấn đề. Tôi cần phải thông công mật thiết với Chúa Jesus. Tôi biết Chúa Jesus là ai nhưng tôi chưa bao giờ mời Ngài làm chủ cuộc đời nên đời sống của tôi chưa dâng cho Chúa trọn vẹn. Tối hôm đó tôi đã cầu nguyện tiếp nhận Chúa và mời Ngài bước vào lòng tôi. Sau buổi truyền giảng đó, tôi thả bộ trên thành phố. Tôi chưa bao giờ thích thành phố New York nhưng đêm đó tôi thấy thành phố này đẹp lạ lùng. Mọi vật đều mới lạ. Mưa phùn nhè nhẹ làm mọi vật trở nên mới lạ và đẹp đẽ vô cùng. Tôi biết một biến cố đặc biệt đã xảy ra trong đời tôi.!”
Colson hỏi Tom: “ Tin Chúa nghĩa là chỉ làm như vậy thôi sao, tức là chỉ cần mời Chúa ngự vào lòng anh?
Tom trả lời :” Đúng, chỉ đơn giản như vậy thôi. Nhưng dĩ nhiên anh phải thật lòng mong muốn Chúa ngự trị trong đời sống của anh.  Anh phải thấy mình thật sự cần Chúa. Đó là điều kiện tiên quyết. Anh biết không, kể từ ngày tôi mời Chúa vào cuộc đời tôi, tôi sống thật vui vẻ thỏa mãn là điều mà trước đây tôi không có.”
Colson thầm nghĩ: “ Từ trước tới giờ, mình coi Chúa Jesus chỉ là một nhân vật lịch sử. Nếu như lờiTom nói thì tôi không thể nào mời Chúa vào cuộc đời của tôi. Tôi phải tin Chúa Jesus đang sống, Thánh Linh của Ngài đang cầm quyền trên thế giới
Những lời chứng của Tom làm Colson cảm động dù anh không thể nào tưởng tượng tại sao một biến cố lạ lùng, lớn lao lại có thể xảy ra một cách đơn giản như vậy. Tuy nhiên nhìn vào sự phấn khởi, hăng hái của Tom khi anh kể lại kinh nghiệm tin Chúa đã thuyết phục Colson và nhất là anh đã thấy Tom thay đổi thật sự.
Tom nói tiếp : “Những gì tôi nói với anh về Chúa, anh sẽ không thể nào hiểu được cho đến khi nào anh bằng lòng đối diện với chính mình, nhìn vào con người của mình một cách thành thật và thẳng thắng. Đó đó là bước đầu tiên mà anh nên làm”. Tom với tay lấy một quyển sách nhỏ do CS Lewis viết có tựa là MERE CHRISTANITY rồi nói: “ Tôi tóm tắt chương đầu của quyến sách này cho anh nghe.
“Có một tánh xấu mà trên đời này không ai không mắc phải. Cái tính xấu này chỉ thấy ở người khác, không ai thấy mình mắc phải ngoaị trừ Cơ Đốc Nhân.  Cái tính xấu là tính kiêu ngạo. Chính tánh xấu này sinh ra những tánh xấu khác và đưa chúng ta đến việc chống lại Thiên Chúa.
Colson kể lại rằng khi anh nghe dến đây anh nóng bừng lên: “ Dòng chữ của Lewis đánh thẳng vào tôi” .
Tom nói tiếp : “ Khi tin Chúa, bạn phải đối diện với Đấng vượt hơn bạn về mọi mặt. Nếu bạn không công nhận Chúa là Đấng tối cao, toàn năng, toàn tri, toàn quyền còn bạn chỉ là con số không trước mặt Ngài thì bạn chưa biết Chúa là ai cả. Nếu bạn còn tính kiêu ngạo. bạn chưa nhìn biết Chúa.
Tom tiếp tục nói và Colson tiếp tục sống lui về dĩ vảng,
“ Con người thật của tôi như được phơi bày ra như một người sắp chết nhìn thấy lại quá khứ mình. Văng vẳng bên tai là những câu : “ Thưa ông Cố vấn, Tổng Thổng muốn gặp ông” được lập đi lập lại nhiều lần như nhắc lại thời oanh liệt ở Tòa Bạch cung.
Một quá khứ kiêu ngạo ích kỷ tuần tự diễn ra trước mặt tôi. Tôi xấu hổ và đau đớn. Tôi có thể bỏ tất cả để được một địa vị cao trong chính quyền. Tôi từ chối những chỗ lương cao mà tôi gọi là hy sinh thật ra là để đầu tư vào một chỗ đứng trong Tỏa Bạch cung. Chính sự kiêu ngạo mà Lewis gọi là một tội lỗi ghê gớm đã điều khiển cả đời tôi.
Tom gấp quyển sách lại nhìn thẳng vào tôi. Tôi lắp bắp nói có thể tôi không có thì giờ để đọc hết cuốn sách này nhưng thật ra lời của Lewis đã đánh thủng áo giáp mà tôi mặc để bao che tôi suốt 42 năm qua.
Rõ ràng tôi chưa biết Thượng đế. Làm sao tôi có thể thấy được Ngài khi mà tôi chỉ nhìn thấy tôi.  Tôi thành công trên nấc thang danh vọng, Tại sao tôi phải nghĩ tới một đấng Tối Cao nào đó để làm gì!
“ Chuck ! anh nghĩ thế nào ? Tom đưa tôi vào thực tế. Tom muốn biết tôi có sẵn sàng bước đi với anh như anh đã bước đi với Chúa ở New York.
Colson trả lời : “ Tom, anh đã đánh thức con người thật của tôi nhưng tôi chưa thể trả lời là tôi sẵn sàng bước đi với anh. Tôi  phải suy nghĩ lại. Tôi còn phải vượt lên trên mớ kiến thức đầy ắp trong đầu tôi. Tom trả lời : “ tôi hiểu”
Tôi thấy nhẹ nhõm. Thâm tâm, tôi muốn Tom nài ép tôi tin Chúa..
Tom lấy quyển Kinh Thánh đọc vài câu trong sách Thi Thiên rồi Tom xin phép cầu nguyện. Tôi mơ màng văng vẳng bên tai câu Kinh Thánh  “ Hãy tin cậy Đức Chúa Trời” và tôi biết lòng tôi thật sự muốn tin cây Ngài vì tôi đang trải qua nhiều khó khăn gần như không giải quyết được.
Bước ra khỏi nhà Tom, bóng đêm làm tôi dễ chịu, tôi không phải đè nén những xao xuyến trong lòng tôi nữa. Nước mắt bỗng nhiên trào ra. Tôi cố gắng lắm mới tìm được chìa khóa xe. Tôi biết tôi đang khóc. Tôi quyết định trở vào nhà Tom để nhờ Tom cầu nguyện cho tôi. Tôi tắt máy xe, bước ra khỏi xe. Tôi thấy đèn nhà bếp và phòng khách nhà Tom vừa tắt. Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy vợ chồng Tom bước lên lầu. Đèn cầu thang cũng tắt. Đã quá muộn rồi.
Tôi bước vào xe. Lái xe về nhà. Nước mắt tuôn chảy ra khiến tôi không thể lái  xa được. Tôi dừng xe lại. Bánh xe cán lên những chiếc lá khô nghe thật rợn người. Đêm thật vắng . Chỉ có tiếng dế và tiếng khóc tức tưởi của tôi. Bây giờ tôi không màng đến chí khí anh hùng  hay hèn yếu. Tôi không cần đóng kịch nữa. Tôi thấy lòng tôi nhẹ nhõm. Đây không phải là những giọt nước mắt đau buồn, ân hận hay sung sướng nhưng là những giọt nước mắt làm nhẹ nhõm tâm hồn của một người suốt đời chỉ biết tính tóan, mưu mẹo, tranh dành, sống còn với quyền lực thế gian.
Sau đó tôi cầu nguyện lần đầu tiên với Chúa:
“Lạy Chúa, con không biết làm sao để gặp Chúa nhưng con biết Chúa đã sống lại và đang nghe lời con kêu cầu,. Con sẽ cố gắng tìm Ngài. Xin Chúa tiếp nhận con.” Tôi lập đi lập lại lời cầu nguyện nầy trong suốt nửa giờ ngồi trong xe.
Tuy lần đầu tiên ngồi một mình trong đêm tối nhưng tôi không cô đơn vì biết Chúa bên cạnh tôi”.
Thưa Hội Thánh
Sáng hôm nay chúng ta ôn lại những câu chuyện của quá khứ để thấy rằng những con người có sự suy nghĩ trần tục sẽ không bao giờ tìm đến Chúa. Những đầu óc trần tục sẽ không chấp nhận Chúa sống lại. Thật ra Chúa đã sống lại trong lòng mỗi người Cơ đốc chúng ta.