|
Tìm Hiểu Tâm Linh Những Thắc mắc cần Trả lời
|
Tìm Hiểu Tâm Linh Những Thắc mắc cần Trả lời Người hỏi: Phóng viên Ðào Hiếu Thảo (Phỏng vấn trên đài Truyền Hinh Việt Nam Hải Ngoại ngày 11/25/2006)
LỜI MỞ ÐẦU VÀ GIỚI THIỆU Phóng viên Ðào Hiếu Thảo: Chương trình “Tìm Hiểu Tâm Linh” của đài Việt Nam Truyền hình và Truyền thanh Hải ngoại xin giới thiệu diễn giả hôm nay là Mục Sư Trần Nhựt Thăng hiện quản nhiệm Hội Thánh Tin Lành Báp Tít Phục Hưng , thuộc thành phố Falls Church, tiểu bang Virginia. Thưa quý khán thính giả, Mục sư Trần Nhựt Thăng sinh năm 1941 tại Cần thơ Ông tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh, Ban Ðốc sự khóa 10 (1965) và Ban Cao học khóa 2 (1968). Ông cũng tốt nghiệp khóa 8/68 Trường Sĩ quan Thủ Ðức với cấp bậc Chuẩn úy . Ông giữ chức vụ cao cấp trong Bộ Thông tin Dân vận và Chiêu Hồi từ năm 1968 đến 1975. Ông là một Tổng thư ký trẻ tuổi nhất dưới thời Việt Nam Cộng Hòa lúc ông được 27 tuổi. Ông đến Hoa kỳ tỵ nạn năm 1975 vàbắt đầu cuộc sống mới với hai năm đầu lái xe bus và học lại tại Catholic University. Sau đó, ông là Social Worker từ 1978 đến 1981 tại quận Prince George Maryland và quận Arlington Virginia. Năm 1981, ông tốt nghiệp Master of Business Accounting tại Catholic University và giữ chức vụ Tax Auditor, (Thanh tra Thuế vu)ï tại quận Arlington, Virginia và ba năm sau, ông trở thành Chief Tax Auditor (Thanh tra trưởng Thuế vụ) từ năm 1985 cho đến ngày ông hưu trí năm 2005. Ông học Ban Cao Học Thần học hàm thụ tại trường Luther Rice, Georgia . Ông dạy Kinh Thánh tại Hội Thánh Báp tít Lanham trong 18 năm, từ năm 1981 cho đến năm 1999. Năm 1999. ôâng thụ phong Mục sư do Hội Thánh Hoa kỳ United Baptist tại New Carrolton và Ordaining Council của Maryland Baptist Association. Từ đó, ông là Mục sư bán thời gian tại Hội Thánh Báp tít Phục Hưng tại Falls Church, VA . Ðến đầu năm 2006, sau khi về hưu ở sở Thuế vụ, ông chính thức làm Mục sư toàn thời gian tại Hội Thánh này cho đến nay. - Ông là người chủ biên tập san Tinh Thần là một tập san có giá trị về tôn giáo Cơ đốc được nhiều độc giả ưa thích và yểm trợ. Cũng xin nói thêm một chút về sinh họat cộng đồng của ông. Phóng viên Ðào Hiếu Thảo: Kính chào Mục sư, kính chào khán thính giả của đài Truyền Hình Việt Nam Hải Ngoại. … Sau đây là những câu hỏi của chúng tôi xin gởi đến Mục sư:
Câu Hỏi 1 Sau biến cố 1975, các vị lãnh đạo tôn giáo bị bắt đi cải tạo cùng lúc với các quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Trong trại cải tạo, các cán bộ Cộâng sản thách thức rằng: các “anh” hãy cầu xin Giáo chủ của các “anh” để xem các giáo chủ có ban cho các“anh” gạo muối không. Trong khi đó, chỉ cần mở miệng xin bác và đảng thì lập tức gạo muối sẽ được mang đến cho các “anh”. Muốn sống hãy cầu xin bác và đảng. Thượng đế của các “anh” đã chết cả rồi. Thưa Mục sư, trước lý luận rất thực tế đó, chúng ta phải giải thích làm sao? Trả lời: Một cách tổng quát, chúng ta nên cẩn thận để ý rằng các biện luận của câu hỏi này là một lối ngụy biện quy kết (the fallacy of composition). Nó dựa trên một giả định sai là bác hay đảng có quyền năng tạo ra cơm gạo ngang hàng với ông Trời. Ðó là sự khác biệt lớn giữa người vô thần và người hữu thần. Người vô thần thường dựa vào lý luận, vào cách suy nghĩ xem ra rất hữu lý nhưng thật ra là thứ ngụy biện quy kết để kết luận sai lạc các hiện tượng xảy ra. Lý luận của họ trong câu chuyện này hoàn toàn không có luận cứ vững chắc mà tôi sẽ phân tích sau. Hoàn cảnh mà anh Thảo đưa ra câu hỏi này là hoàn cảnh người cán bộ Cộng sản vô thần trong thế mạnh . Họ là những cai tù, cai ngục có quyền định đoạt sự chết hay sự sống của các tù nhân. Họ có quyền gieo rắc sự đọa đày cho người khác. Còn người bị hỏi là người tù, không có tự do, không có quyền nói lên ý nghĩ của mình . Vì đang sống trong gông cùm nên dù người tù cải tạo có tri thức đáng bậc thầy của người hỏi nhưng họ không thể nói ra, chỉ lẳng lặng nghe lời nhục mạ của cán bộ vô thần. Cho nên, cái lý lẽ trong câu chuyện này là lý lẽ của kẻ mạnh mà kẻ mạnh là kẻ vô thần. Trong lúc có sẵn trong tay những bao gạo, họ thách thức những người tù muốn có gạo ăn, nên van xin ai, bác và đảng hay Thượng Ðế để xem ai sẽ mang gạo cho. Dĩ nhiên, ông Trời, Chí tôn, Thượng đế, Ðức Phật hay Ðức Chúa Trời sẽ không xuất hiện để mang gạo đến cho những người tù cải tạo và chỉ những kẻ chỉ huy trong trại tù của bác và đảng phân phát cơm gạo cho tù nhân ăn. Dựa vào đó, họ kết luận rằng không có Thượng đế mà chỉ có Bác và đảng có thẩm quyền ban bốâ những thứ nhu yếu cần dùng cho con người. Ðứng trên quan điểm Thần học của Cơ đốc giáo, tôi có bốn điểm cần lưu ý để giải thích hay để làm sáng tỏ hiện tượng này. THỨ NHẤT : Gạo cơm do đâu mà có ? Họ sẽ trả lời do con người trồng trọt mà có. Tuy nhiên nếu không có hạt giống, không có nước, không có ánh sáng mặt trời, không có đất thì làm sao có gạo. Các nhà bác học có thể dùng các hợp chất hóa học như nitro, carbon, hydro… để chế tạo ra một hạt lúa. Tuy nhiên hạt lúa nhân tạo đó không có khả năng nẩy mầm để trở thành một cây lúa được. Tất cả bắt đầu từ Thượng đế. Không có Thượng đế thì sẽ không có gì hết. Kinh Thánh ghi rằng “ Ban đầu Ðức Chúa Trời tạo nên trời đất” sau đó Ngài tạo ra ngày đêm, không khí, nước, cây cỏ thú vật và sau cùng là con người. Chúa Trời ban cho đất, ánh sáng mặt trời, nước, hột giống. Các yếu tố này gôm lại và với quyền năngï mầu nhiệm của Ðấng Tạo Hóa, hạt giống nẩy mầm và lúa, gạo, hay cơm có là do Thượng đế ban cho. Dĩ nhiên cả bác, gia đình của bác và đảng viên của bác cũng do Ðức Chúa Trời tạo ra. Bác hay đảng vì là nhà cầm quyền nên là người tạm thời được quản trị gạo lúa của Thượng đế tạo ra. THỨ HAI : Những dân tộc không có bác và đảng lấy cơm gạo từ đâu mà ăn? Hiện nay, chỉ có bốn quốc gia dưới chế độ Cộng sản là Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba và Trung Hoa lục địa vì có bác và đảng nên có gạo mà ăn, còn lại 189 quốc gia với cả 5 tỷ người trên khắp trái đất này không có bác và đảng thì họ lấy đâu mà có gạo và cơm để ăn. Ngay tại Hoa kỳ với 300 triệu người không có bác và đảng nhưng không ai thấy người đói mà chỉ thấy gần như cả nước đều phải kiêng ăn vì ăn quá nhiều. THỨ BA :Ðức Chúa Trời ban mưa xuống cho kẻ ác lẫn người tốt. Kinh Thánh ghi rằng Ðức Chúa trời ban mưa xuống cho kẻ ác lẫn người công bình. Người biết ơn thì tạ ơn Chúa Trời đã ban mưa xuống. Người vô thần thì nhận nước mưa một cách vô ơn mà còn có thể lên mình nói rằng do Bác và đảng làm ra. Ðiều này không ai ngạc nhiên về sự suy luận kém hiểu biết của họ. THỨ TƯ : Sự quan phòng của Ðức Chúa Trời Mặc dù lúc nào Ðức Chúa Trời cũng quan phòng từng chi tiết nhỏ nhặt trong đời sống của con người, nhưng Ðức Chúa Trời cũng có những chương trình khác dài hạn hơn và tầm mức lớn hơn dành cho con người. Hãy nhìn lại sau 30 năm, hiện trạng của người tù cải tạo và người cán bộ trong trại tù cải tạo đã ra sao? Có thể nói gần như tất cả những người đi cải tạo cùng với gia đình đã đến xứ Hoa kỳ sinh sống. Họ đã có nhà cửa xe cộ, công ăn việc làm và con cháu ăn học đỗ đạt thành tài bác sĩ, kỹ sư, luật sư . . . Một số đã trở thành con dân của Chúa. Trong lúc đó thì những người cán bộ trong các trại đó bây giờ sống như thế nào? Có lẽ cũng như xưa, cũng tiếp tục sống trong kỷ luật khắt khe của đảng, vẫn phải nói, lý luận một chiều, không trông thấy những cái mới lạ của thế giới văn minh và dĩ nhiên không thể nào thấy được chân lý của cuộc đời. Cuộc sống hiện nay của những người đã từng là những tù nhân của họ là giấc mơ hay lý tưởng của họ. Tôi tin rằng nếu có chút học thức, không ai dùng “lý luận của những lon gạo” để làm nền tảng cho quan niệm Thần học. Hãy nhìn chung quanh, nhìn vào những họat động thật mầu nhiệm của các cơ cấu trong thân thể con người, nhìn vào vạn vật, nhìn vào vũ trụ, chúng ta thấy sự có mặt của Chúa Trời . Ðức Chúa Trời, Ðấng Tạo Hóa đã phơi bày sự hiện diện của Ngài khắp mọi nơi và bằng mọi cách. Tôi thật sự thấy thương cho những người vô thần vì chính họ không nhìn thấy Thượng đế chớ không phải Thượng đế giấu mặt với họ đâu. Có thể 30 năm trước người cán bộ Cộng sản đã thực sự nghĩ như vậy vì họ được huấn luyện bằng thứ lý luận ngụy biện quy kết. Nhưng bây giờ, 30 năm sau, khi tiếp nhận với thực tế, với thế giới văn minh ở bên ngoài, tôi tin rằng họ không còn ăn nói một cách dại khờ như vậy nữa. Chúng ta không nên để tâm nhớ đến sự khiếm khuyết bao giờ cũng có ở con người vốn là bất toàn. Câu Hỏi 2 Trả lời: Trong quyển Kinh Thánh gồm hơn 31 ngàn câu, trong đó không có câu nào Chúa hứa rằng theo Chúa thì sẽ được miễn trừ sự khó khăn, sự sỉ nhục hay bắt bớ tù đày. Chúa có bảo đảm với con dân của Ngài rằng đi theo Chúa thì phải vác thập tự mà đi theo Ngài. Mọi người khi tin nhận Chúa đều biết rõ điều này. Tuy nhiên, Chúa có hứa rằng sự khó khăn sẽ không vượt quá sự chịu đựng của chúng ta và Ngài cũng có hứa là sẽ ban cho các con dân của Ngài sự bình an thật sự trong Chúa. Mọi khổ cực của cuộc đời chỉ là những thử thách để đức tin được tăng trưởng. Suốt hai ngàn năm nay, qua bất cứ thời kỳ nào, cơ đốc nhân đều gặp sự thử thách, bắt bớ , tù đày và chết vì theo Ngài. Sự gian nan, khổ cực xảy ra trong cuộc sống của một cơ đốc nhân luôn luôn có một trong hai hệ quả sau đây: - Có thể là một bài học cho người đó. Khi nào người đó nhận thức ra bài học này thì lập tức sự khó khăn sẽ tan biến đi Chúa không làm phép lạ để người ta theo Ngài. Chúa muốn nhân loại này theo Chúa vì đức tin, vì tự do lựa chọn. Ngài không muốn bày tỏ quyền năng để rồi vì thấy quyền năng đó mà đi theo Ngài. Chúa yêu thương nhân loại, Chúa muốn cứu mọi người nhưng không muốn người ta tin Chúa bởi thấy phép lạ hay thấy quyền phép từ Ngài.
Câu Hỏi 3. Mục sư vừa nói Chúa yêu thương nhân loại nhưng tại sao Chúa để cho bao nhiêu bất công xảy ra trong xã hội ngày nay. Tôi thấy những người sống rất đạo đức lại không giàu có như những người gian trá . Tại sao như vậy? Ðức Chúa Trời có công bình hay không? Trả lời: Kinh Thánh có ghi rằng vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban con một của Ngài là Chúa Jesus xuống thế gian để chịu chết trên cây thập tự hầu cho bất cứ ai, tin nhận Chúa Jesus thì tội lỗi của mình sẽ được bôi sạch và được cứu. Ðiều này là đức tin căn bản của Cơ đốc giáo. Trong Kinh Thánh có một câu chuyện về người công bình bị tai họa, khổ cực. Các con dân Chúa đều biết câu chuyện về ông Gióp. Ông là một người giàu có, vợ đẹp con ngoan. Ông là một người tốt và được Chúa khen là một người công bình hoàn toàn. Ông thờ kính Chúa và luôn sống theo ý muốn của Chúa. Tuy nhiên, sau đó, ông gặp cảnh tán gia bại sản. Của cải không còn, các người con yêu thương của ông đều chết. Ông bị bịnh tật ghẻ lở đau đớn tận cùng. Vợ ông ép ông hãy chửi rủa Chúa Trời vì Ngài đối xử với ông quá bất công. Tuy nhiên ông thản nhiên kiên trì chấp nhận. Ông lý luận rằng : Tại sao khi Chúa ban cho thì biết hưởng còn khi Chúa lấy lại thì nguyền rủa Ngài. Sau cơn thử thách đó, Chúa ban lại cho ông tất cả. Ông lành bịnh, giàu có hơn trước và con cái đông đảo hơn xưa. Tôi có biết một ông Gióp đời nay.Tên của ông ta Douglas. Ông là người có đủ lý do để trách móc Chúa Trời và giận Ngài. Khi hỏi ông về sự bất công, về sự thất vọng của cuộc đời đối với Ðức Chúa Trời. Ông im lặng nhìn lên trần nhà một lúc lâu cuối cùng ông nói: “Tôi muốn nói thật lòng tôi. Tôi không thất vọng hay bất mãn Ðức Chúa Trời” . Ông nói tiếp: “ Tôi học qua cơn đau của vợ tôi và sau đó qua tai nạn của tôi. Bài học đó là đừng bao giờ lẫn lộn giữa Ðức Chúa Trời và đời sống của mình. Tôi cũng giận về những gì xảy ra trong cuộc đời của tôi, Tôi rủa sả về những bất công trong đời tôi. Tôi tin rằng Ðức Chúa Trời cũng có cùng một cảm giác như tôi. Ðừng bao giờ đổ thừa cho Ðức Chúa Trời về những gì xảy ra quanh đời sống của mình. Tôi biết Chúa yêu thương tôi và không liên quan gì đến sức khỏe tốt hay xấu của tôi.” Sau cùng ông nói thêm: Hãy đọc và nghiên cứu cuộc đời của Chúa Jesus. Cuộc đời của chúa Jesus có công bình không. Cây thập tự trên đồi Gô-gô-tha đã xóa bỏ tất cả những giả thuyết cho rằng cuộc sống này là công bình.” Thưa quý vị Ðức Chúa Trời đã trả lời câu hỏi về sự bất công không phải bằng lời mà đích thân xuống thế gian, thành người, dâng trọn thịt và huyết của mình để chứng minh rằng Chúa đã có cảm giác về sự bất công trong cuộc đời Một Ðức Chúa Trời đã đích thân Một Ðức Chúa Trời Chúa đã trình bày sự bất công của đời này trên cây thập tự. Nếu một Chúa Jesus còn chịu bao bất công vậy thì chúng ta là ai mà đòi hỏi sự công bình của đời này? Tôi muốn kết luận rằng: Sự bất công không đến từ Ðức Chúa Trời, sự bất công đến từ loài người, từ thế gian gồm những kẻ có tội, bất toàn, bất xứng và dưới quyền lực của Satan. Nếu còn sống trên trần gian này, không ai được miễn trừ sự bất công. Chúa muốn chúng ta phải tái sinh để có cuộc sống mới. Phải bước ra khỏi nơi tối tăm thì mới đến nơi sáng tươi.
Câu Hỏi 4 Người Cơ đốc nói rằng Kinh Thánh là lời của Ðức Chúa Trời. Mục sư có thể nào cho biết có cái gì để chứng minh điều này không? Cám ơn anh đã cho tôi cơ hội nói về quyển Kinh Thánh. Tôi xin tóm gọn những lý lẽ vì sao nội dung của quyển Kinh Thánh này là lời của Ðức Chúa Trời. 1. Kinh Thánh là một quyển sách rất cổ xưa. Có nhiều phần trong Kinh Thánh được viết cách nay hơn 3400 năm. Tuy nhiên, sự cổ xưa của Kinh Thánh không phải là lý do để chúng ta chú ý dù rằng nếu quyển sách nào ghi chép lời của Ðức Chúa Trời thì quyển sách đó không thể nào mới viết gần đây được vì lịch sử loài người đã có nhiều ngàn năm và cuốn sách ghi lời dạy của Ðức Chúa Trời cho loài người phải có từ xưa. 2. Sự kiện quyển Kinh Thánh được phổ biến rộng rãi cũng không phải là lý do chính để chúng ta chú ý. Tuy nhiên một lần nữa, thật hợp lý nếu một cuốn sách nào ghi lời dạy dỗ của Ðức Chúa Trời cho loài người thì quyển sách đó phải có khả năng đến từng tay của mọi người thuộc mọi chủng tộc trên thế giới nếu muốn. Thật vậy, hầu như mọi quốc gia, mọi dân tộc trên thế giới đều có thể có quyển Kinh Thánh in theo tiếng nói của họ. Hiện nay, theo thống kê của năm 1998, quyển Kinh Thánh đã được dịch ra hơn 2,200 thứ tiếng tức là hơn 90% tiếng nói của nhân loại. Quý vị muốn có chi tiết này xin vào Website www. Biblesociety.org. Theo tổ chức United Bible Societies, trong năm 1998, có 585 triệu quyển Kinh thánh toàn bộ hay từng phần đã được phân phối ra. Trung bình trong 30 năm qua, cứ mỗi ba giây, một quyển Kinh Thánh được in ra ngày và đêm, 22 quyển trong mỗi phút , 1369 quyển mỗi giờ và 32,876 quyển mỗi ngày. Không có quyển sách nào trên thế gian này có thể so sánh với quyển Kinh Thánh về con số ấn bản và về ngôn ngữ phiên dịch . Tuy nhiên điều này cũng không đủ để chứng minh quyển Kinh Thánh là lời của Ðức Chúa Trời. 3. Quyển Kinh thánh là quyển sách độc nhất được viết trong 1500 năm với 40 người viết gồm đủ mọi thành phần trong xã hội như: vua chúa, tướng lãnh quân đội, nông dân, triết gia, ngư phủ, người thu thuế, thi sĩ, nhạc sĩ, học giả, thủ tướng,chăn chiên, đạo sĩ, thư ký vân vân. Kinh Thánh được viết tại nhiều nơi khác nhau: trong sa mạc, trong hang đá, trong đền vua, trong tù, trong lúc du lịch, trong lúc bị lưu đày . . . Kinh Thánh được viết trong những hoàn cảnh khác nhau: lúc chiến tranh, lúc hòa bình, lúc nghèo khổ, lúc giàu sang, lúc vui mừng, lúc đau đớn buồn khổ, lúc ăn năn, lúc thú tội, lúc nghi ngờ, lúc đức tin vững mạnh. Kinh Thánh được viết trong ba lục địa : Á châu, Phi Châu và Âu châu. Dù thời gian viết quá lâu, trong không gian và hoàn cảnh khác nhau, nhiều người viết khác nhau, nhưng toàn bộ quyển Kinh Thánh đều ăn khớp với nhau, liên tục, không hề có chi tiết nào mâu thuẫn nhau. Ðiều này chứng tỏ quyển Kinh Thánh được viết ra dưới sự chỉ đạo duy nhất. Ðó là Ðức Chúa Trời. 4. Tất cả những điều tiên tri được viết trong Kinh Thánh đều lần lượt xảy ra trong một khoảng thời gian kéo dài 5,000 năm. Sự chính xác của các lời tiên tri về sự kiện, nơi chốn, và thời gian đã được chứng minh qua lịch sử của các nước. Các chi tiết trong Kinh Thánh liên quan đến địa danh, thời đại, trào vua đều hoàn toàn chính xác khi đối chiếu với lịch sử. Các nhà khảo cổ cũng đã chứng minh sự chính xác của Kinh Thánh. Xin quý vị có thể tìm đọc chi tiết của sự chính xác này trong quyển sách : New Evidence that demands a Verdict của tiến sĩ Josh McDowell do nhà xuất bản Thomas Nelson Publishers ấn hành năm 1999 từ trang 33 đến trang 116. 5. Tất cả các dữ kiện mà tôi vừa nêu ra có thể làm quý vị suy nghĩ nhưng tôi còn có những lý do khác quan trọng hơn khiến chúng ta cần xem xét quyển Kinh Thánh này. Dù quý vị là ai và ở đâu, vấn đề thiết yếu của chúng ta vẫn là sự an lạc, hạnh phúc của con người. Kinh Thánh là sách duy nhất chỉ dẫn cách để đạt được hai đòi hỏi cần thiết nhất của con người. Như vậy tại sao quý vị từ chối xem xét quyển sách này? Có người cho rằng ngày nay khoa học tiến bộ nhanh chóng, việc xem xét một quyển sách cổ xưa là việc làm thiếu khôn ngoan. Tuy nhiên dù nhân loại tiến bộ nhanh chóng đến đâu , những vấn đề cũ kỹ của nhân loại vẫn còn đó và vẫn cần phải có giải pháp để giải quyết. Khoa học tiến bộ nhưng đời sống con người bây giờ mất an ninh hơn. Khoa học tiến bộ nên vũ khí giết người cũng tiến xa hơn và đe dọa hủy diệt nhân loại hơn. Ðời sống có nhiều tiện nghi hơn nhưng thiếu tình yêu hơn. Con người ít cực khổ lao động nhờ tiến bộ kỹ thuật nhưng con người sống cô lập hơn và ích kỷ hơn. Gia đình có nhiều xáo trộân hơn và dễ dàng tan rã hơn. Kinh Thánh đề cập trực tiếp các vấn đề đó và Kinh Thánh cho chúng ta biết mục đích chính của cuộc sống con người. Kinh thánh trả lời những câu hỏi như: Sự sống từ đâu tới? Tại sao có ta? Tương lai của nhân loại là gì? 6. Kinh Thánh nhiều lần công khai tự nhận là Lời của Ðấng Tạo Hóa là Ðấng đã tạo ra loài người. Kinh Thánh nhấn mạnh điều này và nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Vì sự xác quyết này, có lẽ chúng ta nên xem xét kỹ càng nội dung Kinh Thánh đã nói gì. Trong 3500 năm nay, biết bao nhiêu người khổ công tìm kiếm những sai lầm của quyển Kinh Thánh và cũng có biết bao nhiêu người trong số đó sau khi tìm kiếm đã trở nên là con dân của Ðức Chúa Trời. Biết bao nhiêu nhà bác học trước kia là vô thần nhưng càng nghiên cứu càng khám phá những sự mầu nhiệm của vũ trụ, từ các sinh vật và từ cơ quan trong cơ thể con người mà trở thành những người tin nhận Ðức Chúa Trời là Thượng đế của loài người. Tôi mượn lời của ông Salmon Chase, cựu Chủ tịch Tối cao pháp viện Hoa kỳ là người trước đây hoài nghi quyển Kinh Thánh nên đã quyết định mở cuộc điều tra và cân nhắc những bằng chứng như cách ông xử một vụ án và ông đã kết luận như sau: “ Tôi đã thâm cứu đứng đắn và khá lâu. Tôi đã dùng đúng phương pháp mà tôi dùng khi phán quyết những việc trước tòa án để xem xét những bằng cớ về tôn giáo này. Và tôi đi đến kết luận rằng cuốn Kinh Thánh là một quyển sách siêu phàm, và do Ðức Chúa Trời mà đến” Trích trong sách “Book of the books: An introduction” , in năm1948 trang 194. 7. Ðiều sau cùng, tôi xin nêu một lý do quan trọng để chúng ta cần xem xét quyển sách này. Theo Kinh Thánh, chúng ta đang sống trong giai đoạn cuối cùng của thế gian. Chúng ta thấy thế giới hiện đang sống trong những đe dọa bị hủy diệt. Từ ngàn năm trước , Kinh Thánh đã nói đến thời kỳ này và Kinh Thánh cũng nói đến những điều kiện để được sống sót. Như vậy, nếu Kinh Thánh thực sự là Lời của Ðức Chúa Trời mà vì sự thiển cận, vì tự ái, vì lười biếng, vì thành kiến để không đọc, không xem xét thì thật là một sai lầm vô cùng tai hại cho chính bản thân mình mà cho cả gia đình, con cái của chúng ta. KẾT LUẬN Xin mời Mục sư nói vài lời cùng khán thính giả để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay. Thưa quý khán thính giả, Hãy để tâm hồn con người chúng ta lắng đọng. Sự mầu nhiệm của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể con người có làm chúng ta thắc mắc hay không ? Còn các sinh vật, từ con kiến thật nhỏ đến con voi dềnh dàng kia, sự tinh vi trong cơ thể của chúng cũng nói đến sự lạ kỳ và quyền năng của Ðấng Sáng Tạo. Nhìn lên trời cao, vũ trụ bao la, mêmh mông với hằng hà sa số các thiên hà. Ai đã điều khiển để mọi sự xảy ra ăn khớp chặt chẽ với nhau như những bánh xe của chiếc đồng hồ. Hãy thành thật với chính mình để có nhận thức này. Xin đừng vội tin tôi. Tôi cầu xin Thượng Ðế ban cho quý vị hai điều quan trọng đó: hạnh phúc và bình an. Trân trọng kính chào quý vị. Ðịa chỉ liên lạc:
|