Tài Liệu


Đặc Trưng Của Người Báp Tít

HỘI THÁNH TIN LÀNH
B ÁP TÍT PH ỤC H ƯNG
103 West Columbia St. Falls Church Virginia 22046

 

 

ĐẶC TRƯNG
CỦA
NG Ư ỜI B ÁP TÍT
Do Mục sư Đào văn Chinh dịch
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/thumb/5/5c/SBC_logo.jpg/200px-SBC_logo.jpg
2009

Đặc Trưng Của Người Báp-tít


Đặc Trưng Của Người Báp-tít nói đến tín lý căn bản của những tín nhân Báp-tít. Theo truyền thống, tín lý căn bản bao gồm bốn sự tự do:

  • Tự do của linh hồn: Linh hồn con người có khả năng trực diện cùng Thượng Đế. Không có tổ chức nào, không có cơ chế nào có thể ngăn trở hoặc ép buộc linh hồn con người trong mối liên hệ với Thượng Đế.
  • Tự do của hội thánh: Hội thánh địa phương tự trị dưới quyền tể trị của Thượng Đế, tự quản trong việc quán xuyến công việc nội bộ, tự túc trong việc chăm sóc lẫn nhau. Hội thánh cần tuân hành luật lệ địa phương nhưng không vì vậy mà phải chịu áp lực từ bên ngoài.
  • Tự do của Kinh Thánh: Cá nhân tín hữu có quyền học tập, tra cứu, nghiền ngẫm và hiểu biết Kinh Thánh theo cách Chúa soi sáng cho bản thân mình và không bị ép buộc phải giải thích Kinh Thánh theo cách của người khác.
  • Tự do của niềm tin: Mỗi cá nhân được quyền tin đạo, sống đạo, hành đạo và theo đạo của mình, hoặc theo một đạo khác, hoặc không theo đạo nào.

Chữ tín nhân báp-tít, trong Anh Ngữ là  B A P T I S T S. Rất nhiền tín hữu báp-tít dùng chữ này làm chữ viết tắt của tám tín lý căn bản:

  • Biblical Authority - Thẩm Quyền Thánh Kinh
  • Autonomy of the Local Church – Tính Cách Tự Trị, Tự Quản Của Hội Thánh Địa Phương
  • Priesthood of All Believers – Tư Cách Tế Lễ Của Mỗi Tín Nhân
  • Two Ordinances – Hai Thánh Lễ Báp Têm và Tiệc Thánh
  • Individual Soul Liberty – Tự Do Cá Nhân Của Linh Hồn
  • Separation of Church and State – Sự Phân Biệt Hội Thánh và Chánh Quyền
  • Two Offices of the Church (Pastor and Deacon) – Hai Chức Vụ Mục Sư và Chấp Sự
  • Saved Church Membership – Hội Viên Hội Thánh Gồm Những Người Được Cứu

Biblical Authority - Thẩm Quyền Thánh Kinh
Ma-thi-ơ 24:35 – Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi.
1 Phi-e-rơ 1:22-23 – 22Anh em đã vâng theo lẽ thật làm sạch lòng mình, đặng có lòng yêu thương anh em cách thật thà, nên hãy yêu nhau sốt sắng hết lòng; 23anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Ðức Chúa Trời.

2 Ti-mô-thê 3:16-17 – 14Về phần con, hãy đứng vững trong những sự con đã đem lòng tin chắc mà học và nhận lấy, vì biết con đã học những điều đó với ai, 15và từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu bởi đức tin trong Ðức Chúa Giê-xu Christ.  16Cả Kinh Thánh đều là bởi Ðức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, 17hầu cho người thuộc về Ðức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành.


Trong suốt nhiều thế kỷ tín nhân báp-tít luôn khẳng định rằng Kinh Thánh có thẩm quyền duy nhất và tối hậu cho niềm tin và nếp sống đạo của Cơ Đốc Nhân. Không ai – dù là truyền thống giáo hội, giáo hoàng, vua quan, giám mục, linh mục, mục sư hoặc giáo sư – có thể thay thế hoặc thêm vào thẩm quyền của  Kinh Thánh trong đời sống của tín nhân. Chính vì niềm tin này mà tín nhân báp-tít đã từng bị giáo quyền lẫn thế quyền bắt bớ. Kinh Thánh là nền tảng của giáo lý và cơ cấu Báp-tít. Mỗi một tín lý Báp-tít đều đặt căn bản trên nền tảng Kinh Thánh; chẳng hạn như sự cứu rỗi do ân điển bởi đức tin (Ê-phê-sô 2:8-10), tư cách tế lễ của mỗi tín nhân (1 Phi-e-rơ 2:1-10), tự do cá nhân của linh hồn (Rô-ma 14:5-12), ý nghĩa tượng trưng của Lễ Báp-têm (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:41-47) và Lễ Tiệc Thánh (1 Cô-rinh-tô 11:23-32), tư cách hội viên hội thánh dàng riêng cho những người đã được cứu qua việc ăn năn và tin nhận (Ê-phê-sô 5:23-32), quyền hạn tự quản, tự trị, tự túc của cộng đồng tín nhân tại mỗi địa phương (Ma-thi-ơ 18:15-17, 1 Cô-rinh-tô 6:1-3), sự phân biệt hội thánh và chánh quyền (Ma-thi-ơ 22:15-22).


Autonomy of the Local Church – Tính Cách Tự Trị, Tự Quản Của Hội Thánh Địa Phương
Ma-thi-ơ 18:15-17 – 15Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. 16Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. 17Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.
1 Cô-rinh-tô 6:1-3 – 1Khi trong anh em ai có sự nghịch cùng người khác, sao dám để cho kẻ không công bình đoán xét hơn là cho các thánh đồ? 2Anh em há chẳng biết các thánh đồ sẽ xét đoán thế gian sao? Ví bằng thế gian sẽ bị anh em xét đoán, thì anh em há chẳng đáng xét đoán việc nhỏ mọn hơn sao? 3Anh em chẳng biết chúng ta sẽ xét đoán các thiên sứ sao? Huống chi việc đời nầy!


Hội thánh tự trị tự quản là hội thánh tự định hướng, tự xác định tuyên ngôn, phương châm, mục tiêu, mục vụ, cung cách thờ phượng, chương trình chứng đạo, kế hoạch truyền giáo, lịch trình huấn luyện và phương thức thi hành Đại Mạng Lịnh (Ma-thi-ơ 22:37-39 37Ðức Chúa Giê-xu đáp rằng: Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Ðức Chúa Trời ngươi. 38Ấy là điều răn thứ nhứt và lớn hơn hết. 39Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình.) và Đại Sứ Mạng của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 28: 18-20 18Ðức Chúa Giê-xu đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. 19Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Ðức Cha, Ðức Con, và Ðức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, 20và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.) dưới sự tể trị của Đức Chúa Giê-xu Christ.


Trong việc soạn thảo ngân sách, vận động tài chánh, mời gọi lãnh đạo, hợp tác trong tinh thần tự nguyện và bình đẳng với các hội thánh khác trong thành phố, tỉnh, bang, vùng, hoặc toàn quốc, hội thánh tự trị tự quản không bị ràng buộc bởi những quyết định từ bên ngoài. Người được hội thánh công cử đi tham dự Đại Hội Toàn Quốc được gọi là sứ giả (không phải là đại diện). Sứ giả căn cứ vào sự ủy thác của hội thánh để tham dự các cuộc bầu cử tại Đại Hội Toàn Quốc nhưng hội thánh địa phương không bị ràng buộc bởi những nghị quyết tại Đại Hội Toàn Quốc. Nói cách khác, sinh hoạt nội bộ của hội thánh địa phương thuộc về hội thánh địa phương và không ở dưới sự chi phối hoặc ảnh hưởng của những tổ chức khác cho dù đó là tổ chức trong giáo hội.
Priesthood of All Believers – Tư Cách Tế Lễ Của Mỗi Tín Nhân.


1 Phi-e-rơ 2:1-10 – 1Vậy anh em đã từ bỏ mọi điều độc ác, mọi điều gian dảo, mọi thứ giả trá, lòng ghen ghét và sự nói hành, 2thì hãy ham thích sữa thiêng liêng của đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà được rỗi linh hồn, 3nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào. 4Hãy đến gần Ngài, là hòn đá sống, bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Ðức Chúa Trời, 5và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Ðức Chúa Giê-xu Christ mà đẹp ý Ðức Chúa Trời. 6Vì trong Kinh Thánh có chép rằng: Nầy, ta đặt tại Si-ôn hòn đá góc nhà đã chọn lựa và quí báu; Ai tin đến đá ấy sẽ không bị xấu hổ. 7Vậy nên, cho anh em là kẻ đã tin, thì là đá quí; nhưng cho những kẻ không tin, thì Hòn đá mà bị thợ xây nhà loại ra, Bèn trở nên đá góc nhà, là Ðá gây cho vấp váp, là đá lớn làm cho sa ngã; 8họ bị vấp đá đó, vì không vâng phục Ðạo, và điều ấy đã định sẵn cho họ rồi. 9Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Ðức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Ðấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài; 10anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Ðức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót.

1 Ti-mô-thê 5:1-25 – 1Chớ quở nặng người già cả, nhưng hãy khuyên dỗ họ như cha, còn kẻ trẻ thì như anh em, 2đờn bà có tuổi cũng như mẹ, bọn thiếu nữ như chị em, mà phải lấy cách thánh sạch trọn vẹn. 3Hãy kính những người đờn bà góa thật là góa. 4Nhưng nếu bà góa có con hoặc cháu, thì con cháu trước phải học làm điều thảo đối với nhà riêng mình và báo đáp cha mẹ; vì điều đó đẹp lòng Ðức Chúa Trời. 5Người thật góa ở một mình, đã để lòng trông cậy nơi Ðức Chúa Trời, ngày đêm bền lòng cầu nguyện nài xin. 6Nhưng về phần kẻ ưa sự vui chơi, thì dẫu sống cũng như chết. 7Hãy nhắc lại những điều đó cho họ hầu cho họ không chỗ trách được. 8Ví bằng có ai không săn sóc đến bà con mình, nhứt là không săn sóc đến người nhà mình, ấy là người chối bỏ đức tin, lại xấu hơn người không tin nữa. 9Cho được ghi tên vào sổ đờn bà góa, thì người đờn bà phải đủ sáu mươi tuổi, vốn chỉ có một chồng mà thôi, 10phải là người được tiếng khen vì việc phước đức mình, như đã nuôi con cái, đãi đằng khách lạ, rửa chơn thánh đồ, cứu giúp kẻ khốn nạn, và làm đủ các việc phước đức. 11Nhưng hãy từ chối người đờn bà góa còn trẻ quá; vì lúc thú vui xui họ lìa khỏi Ðấng Christ, thì họ muốn lấy chồng, 12bội lời thệ ước ban đầu mà chuốc lấy điều quở trách vào mình. 13Ðó là vì họ hay ở không, quen thói chạy nhà nầy sang nhà khác; còn thày lay thóc mách, hay nói những việc không đáng nói nữa. 14Vậy ta muốn những gái góa còn trẻ nên lấy chồng, sanh con cái, cai trị nhà mình, khỏi làm cớ cho kẻ thù nghịch nói xấu. 15Vì đã có một vài bà góa bội đi mà theo quỉ Sa-tan. 16Nếu tín đồ nào có đờn bà góa trong nhà mình, thì phải giúp đỡ họ, cho khỏi lụy đến Hội thánh, hầu cho Hội thánh có thể giúp đỡ những người thật góa. 17Các trưởng lão khéo cai trị Hội thánh thì mình phải kính trọng bội phần, nhứt là những người chịu chức rao giảng và dạy dỗ. 18Vì Kinh Thánh rằng: Ngươi chớ khớp miệng con bò đương đạp lúa; và người làm công thì đáng được tiền công mình. 19Ðừng chấp một cái đơn nào kiện một trưởng lão mà không có hai hoặc ba người làm chứng. 20Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ. 21Trước mặt Ðức Chúa Trời, trước mặt Ðức Chúa Giê-xu Christ, và trước mặt các thiên sứ được chọn, ta răn bảo con giữ những điều đó, đừng in trí trước, phàm việc gì cũng chớ tây vị bên nào. 22Ðừng vội vàng đặt tay trên ai, chớ hề nhúng vào tội lỗi kẻ khác; hãy giữ mình cho thanh sạch. 23Ðừng chỉ uống nước luôn; nhưng phải uống một ít rượu, vì cớ tì vị con, và con hay khó ở. 24Có người thì tội lỗi bị bày tỏ và chỉ người đó ra trước khi phán xét; còn có người thì sau rồi mới bị bày tỏ ra. 25Các việc lành cũng vậy: có việc thì bày ra, lại có việc thì không bày ra, mà sau rồi cũng không giấu kín được.


Tư cách tế lễ của mỗi tín nhân là một tín lý căn bản của người Báp-tít. Trong thời Cựu Ước, thầy tế lễ đảm trách việc thờ phượng. Thầy tế lễ là trung gian giữa dân sự của Chúa và Đức Chúa Trời. Chỉ có Thầy Tế Lễ cả mới được phép vào Nơi Chí Thánh trong Đền Thờ của người Do Thái. Có một bức màn ngăn cách Nơi Chí Thánh và nơi thánh, và nơi này là nơi cách biệt sinh hoạt thương ngày của dân chúng. Khi Đức Chúa Giê-xu Christ lâm thế thi hành chức vụ của Ngài trên đất, mẫu mực và sinh hoạt thờ phượng trên đây thay đổi hẳn. Việc dâng con sinh tế không còn cần thiết nữa vì Đấng Christ là Chiên Con đã chết thay cho tội lỗi của cả nhân gian. Việc chết thay đó chỉ cần thực hiện một lần là đủ. Khi Chúa phục sinh trong vinh quang, chiếc màn trong Đền Thờ rách toạc làm hai từ trên xuống dưới (Ma-thi-ơ 27:51) và Đấng Christ hiện là Đấng Trung Bảo giữa Đức Chúa Trời và con người. Hết thảy những ai tin nhận Chúa đều được hưởng đặc quyền tương giao trực tiếp với Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Giê-xu Christ. Không còn cần phải có người nào làm trung gian khi tín nhân ra mắt Chúa trong sự thờ phượng hoặc tĩnh nguyện.


Two Ordinances – Hai Thánh Lễ Báp Têm và Tiệc Thánh
Công Vụ Các Sứ Đồ 2:41-47 – 41Vậy, những kẻ nhận lời đó đều chịu phép báp-têm; và trong này ấy, có độ ba ngàn người thêm vào Hội thánh. 42Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện. 43Mọi người đều kính sợ vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các sứ đồ. 44Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. 45Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người. 46Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà, 47ngợi khen Ðức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.

1 Cô-rinh-tô 11:23-32 – 23Vả, tôi có nhận nơi Chúa điều tôi đã dạy cho anh em: ấy là Ðức Chúa Giê-xu, trong đêm Ngài bị nộp, lấy bánh, 24tạ ơn, rồi bẻ ra mà phán rằng: Nầy là thân thể ta, vì các ngươi mà phó cho; hãy làm điều nầy để nhớ ta. 25Cũng một lẽ ấy, sai khi ăn bữa tối rồi, Ngài lấy chén và phán rằng: Chén nầy là sự giao ước mới trong huyết ta; hễ khi nào các ngươi uống, hãy làm điều nầy để nhớ ta. 26Ấy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến. 27Bởi đó, ai ăn bánh hoặc uống chén của Chúa cách không xứng đáng, thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa. 28Vậy mỗi người phải tự xét lấy mình, và như thế mới ăn bánh uống chén ấy; 29vì người nào không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh uống chén đó, tức là ăn uống sự xét đoán cho mình. 30Ấy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ. 31Nếu chúng ta biết xét đoán lấy mình, thì khỏi bị xét đoán. 32Song khi chúng ta bị Chúa xét đoán, thì bị Ngài sửa phạt, hầu cho khỏi bị án làm một với người thế gian.

Trong Anh Ngữ chữ thánh lễ (sacraments) có khi được dùng với ngụ ý cần thiết cho sự cứu rỗi của tín nhân. Trong Anh Ngữ còn có chữ ordinance cũng có nghĩa là thánh lễ trong bối cảnh tín ngưỡng nhưng không ngụ ý cần thiết cho sự cứu rỗi linh hồn tín nhân.
Báp Têm là thánh lễ tượng trưng cho sự chết, sự chôn và sự sống lại trong Chúa. Rô-ma 6:1-5 cắt nghĩa rõ ràng: 1Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta phải cứ ở trong tội lỗi, hầu cho ân điển được dư dật chăng? 2Chẳng hề như vậy! Chúng ta đã chết về tội lỗi, lẽ nào còn sống trong tội lỗi nữa? 3Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp tem trong Ðức Chúa Giê-xu Christ, tức là chịu phép báp tem trong sự chết Ngài sao? 4Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp tem trong sự chết Ngài, hầu cho Ðấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy. 5Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau. Cô-lô-se 2:12 giải bày lẽ đạo tương tự: Anh em đã bởi phép báp-tem được chôn với Ngài, thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin trong quyền phép Ðức Chúa Trời, là Ðấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại.

Theo niềm tin của các tín nhân Báp-tít nghi thức thích hợp cho ý nghĩa chịu chết, chịu chôn và sống lại với Chúa là sự dìm mình bên dưới mặt nước (immersion)
Tiệc Thánh là thánh lễ tượng trưng cho sự hội nhập trong thân và huyết của Chúa. Ma-thi-ơ 26:26-30 tường thuật Tiệc Thánh ban đầu: 26Khi đương ăn, Ðức Chúa Giê-xu lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta. 27Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi; 28vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội. 29Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta. 30Khi đã hát thơ thánh rồi, Ðức Chúa Giê-xu và môn đồ đi ra mà lên núi, Ô-li-ve. Trong Tiệc Thánh bánh không men tượng trưng cho thân của Chúa – vì tội lỗi nhân gian mà chịu đớn đau - và nước nho tượng trưng cho huyết của Ngài - là huyết của Đấng Vô Tội đã tuôn đổ cho nhiều người được tha tội. Khi dự phần trong Tiệc thánh tín nhân tưởng niệm lại sự hy sinh của Chúa trên thập tự giá. Tín nhân Báp-tít không nghĩ rằng bánh là thân thật của Chúa và nước nho là huyết thật của Chúa nhưng chỉ mang ý nghĩa tượng trưng. Tiệc Thánh là thánh lễ nhắc nhở tín nhân nhớ lại sự hiện diện của Chúa trong đời sống mình để có thể kiên trì làm chứng cách hiệu quả về sự chết và sự sống lại của Chúa cho tới lúc Chúa đến.


Individual Soul Liberty – Tự Do Tín Ngưỡng Cá Nhân
Rô-ma 14:5-12 – 5người nầy tưởng ngày nầy hơn ngày khác, kẻ kia tưởng mọi ngày đều bằng nhau; ai nấy hãy tin chắc ở trí mình. 6Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa; kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ tạ ơn Ðức Chúa Trời; kẻ chẳng ăn cũng chẳng ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Ðức Chúa Trời. 7Vả, chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà sống, cũng chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà chết; 8vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả. 9Ðấng Christ đã chết và sống lại, ấy là để làm Chúa kẻ chết và kẻ sống. 10Nhưng ngươi, sao xét đoán anh em mình? Còn ngươi, sao khinh dể anh em mình? Vì chúng ta hết thảy sẽ ứng hầu trước tòa án Ðức Chúa Trời. 11Bởi có chép rằng: Chúa phán: Thật như ta hằng sống, mọi đầu gối sẽ quì trước mặt ta, Và mọi lưỡi sẽ ngợi khen Ðức Chúa Trời. 12Như vậy, mỗi người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Ðức Chúa Trời.

Mỗi cá nhân có quyền tự do tín ngưỡng để chọn Đấng mình tôn thờ hoặc đạo mình theo. Mỗi cá nhân đồng thời cũng có quyền làm người vô thần. Tín nhân Báp-tít tin rằng Thượng Đế ban cho con người khả năng tương giao với Ngài. Khả năng đó không phải chỉ là một đặc tánh nhưng còn là một đặc ân.
Khi sáng tạo vũ trụ và muôn loài thọ tạo trong đó có con người (Sáng Thế Ký đoạn 1 và 2), Thượng Đế cho con người có sự tự do để lựa chọn chung với trách nhiệm kèm theo. Thượng Đế cho biết hậu quả của sự lựa chọn theo điều thiện hoặc theo điều ác. Nếu con người lựa chọn con đường vâng phục Chúa, sự lựa chọn đó dẫn đến sự sống và bình an. Khi con người lựa chọn con đường khước từ Chúa, sự lựa chọn đó dẫn đến sự chết và tai họa.
Chúa Giê-xu và các lãnh đạo trong Hội Thánh thời Tân Ước không hề ép buộc người ta theo Ngài. Chúa khuyên lơn, Chúa kêu gọi, Chúa hy sinh đến hơi thở cuối cùng để giúp những người quanh Ngài hiểu thấu và chấp nhận ân điển của Đức Chúa Cha nhưng Ngài luôn tôn trọng sự tự do của họ.
Separation of Church and State – Sự Phân Biệt Hội Thánh và Chánh Quyền

Rô-ma 13:1-5 1Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình; vì chẳng có quyền nào mà chẳng đến bởi Ðức Chúa Trời, các quyền đều bởi Ðức Chúa Trời chỉ định. 2Cho nên ai chống cự quyền phép, tức là đối địch với mạng lịnh Ðức Chúa Trời đã lập; và những kẻ đối địch thì chuốc lấy sự phán xét vào mình. 3Vả, các quan quyền không phải để cho người làm lành sợ, mà để cho người làm dữ sợ. Ngươi muốn không sợ quyền phép chăng? Hãy làm điều lành, sẽ được khen thưởng; 4vì quan quyền là chức việc của Ðức Chúa Trời để làm ích cho ngươi. Song nếu ngươi làm ác, thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ; người là chức việc của Ðức Chúa Trời để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ. 5Vậy nên cần phải vâng phục, chẳng những vì sợ hình phạt thôi, nhưng cũng vì cớ lương tâm.

1 Phi-e-rơ 2:13-14 13Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc loài người lập lên, hoặc vua, như đấng rất cao, 14hoặc các quan, như người vua sai ra để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành. 15Vì anh em làm điều lành để ngăn miệng những kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Ðức Chúa Trời. 16Hãy ăn ở như người tự do, nhưng chớ dùng tự do làm cái màn che sự hung ác, song phải coi mình là tôi mọi Ðức Chúa Trời. 17Hãy kính mọi người; yêu anh em; kính sợ Ðức Chúa Trời; tôn trọng vua. 18Hỡi kẻ làm tôi tớ, hãy lấy lòng rất kính sợ mà phục theo chủ mình, chẳng những phục những chủ hiền lành mà thôi, lại phải phục người chủ khó tánh nữa. 19Vì nhơn cớ lương tâm đối với Ðức Chúa Trời, mà chịu khốn nạn trong khi bị oan ức, ấy là một ơn phước. 20Vả, mình làm điều ác, bị đánh mà hay nhịn chịu, thì có đáng khoe gì: Nhưng nếu anh em làm lành, mà nhịn chịu sự khốn khó, ấy là một ơn phước trước mặt Ðức Chúa Trời.

1 Ti-mô-thê 2:1-4 1Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3Ấy là một sự lành và đẹp mắt Ðức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật.

Ma-thi-ơ 22:15-22 – 15Bấy giờ người Pha-ri-si đi ra bàn luận với nhau, để kiếm cách bắt lỗi Ðức Chúa Giê-xu về lời nói. 16Họ sai môn đồ mình với đảng vua Hê-rốt đến thưa cùng Ngài rằng: Lạy thầy, chúng tôi biết thầy là thật, và theo cách thật mà dạy đạo của Ðức Chúa Trời, không tư vị ai; vì thầy không xem bề ngoài của người ta. 17Vậy, xin thầy nói cho chúng tôi, thầy nghĩ thế nào: có nên nộp thuế cho Sê-sa hay không? 18Ðức Chúa Giê-xu biết ý xấu của họ, bèn đáp rằng: Hỡi kẻ giả hình, sao các ngươi thử ta? 19Hãy đưa cho ta xem đồng tiền nộp thuế. Họ đưa cho Ngài một đơ-ni-ê. 20Ngài bèn phán rằng: Hình và hiệu nầy của ai? 21Họ trả lời rằng: Của Sê-sa. Ngài bèn phán rằng: Vậy, hãy trả cho Sê-sa vật gì của Sê-sa; và trả cho Ðức Chúa Trời vật gì của Ðức Chúa Trời. 22Họ nghe lời ấy, đều bỡ ngỡ, liền bỏ Ngài mà đi.

Rô-ma 13:6-7 6Ấy cũng bởi lẽ đó mà anh em nộp thuế, vì các quan quyền là đầy tớ của Ðức Chúa Trời, hằng giữ việc ấy. 7Phải trả cho mọi người điều mình đã mắc: nộp thuế cho kẻ mình phải nộp thuế; đóng góp cho kẻ mình phải đóng góp; sợ kẻ mình đáng sợ; kính kẻ mình đáng kính.

Công Vụ Các Sứ Đồ 4:15-20 15Chúng biểu hai người ra khỏi tòa công luận rồi, bèn bàn luận cùng nhau, 16rằng: Chúng ta xử với hai người nầy làm sao? Vì cả dân thành Giê-ru-sa-lem đều biết rõ thật họ đã làm ra một phép lạ sờ sờ; chúng ta chối không nổi. 17Dầu vậy, hầu cho việc khỏi đồn ra trong dân nữa, chúng ta nên lấy lời ngăm dọa, cầm họ, từ rày về sau, chớ lấy danh đó dạy dỗ không cứ là ai. 18Họ bèn đòi hai người vào, rồi cấm tiệt, chẳng cho nhơn danh Ðức Chúa Jêsus mà nói hay là dạy. 19Nhưng Phi-e-rơ và Giăng trả lời rằng: Chính các ông hãy suy xét, trước mặt Ðức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Ðức Chúa Trời chăng? 20Vì, về phần chúng tôi, không có thể chẳng nói về những điều mình đã thấy và nghe.

Công Vụ Các Sứ Đồ 5:28-29 28Chúng ta đã cấm ngặt các ngươi, không cho lấy danh đó mà dạy dỗ, song các ngươi lại làm cho thành Giê-ru-sa-lem đầy dẫy đạo giáo mình. Vậy, các ngươi muốn khiến máu người ấy đổ lại trên chúng ta sao! 29Phi-e-rơ và các sứ đồ trả lời rằng: Thà phải vâng lời Ðức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta.

Chữ “hội thánh” trong văn mạch này có ý nói về tổ chức tín ngưỡng nói chung. Trong giáo hội Báp-tít chữ “hội thánh” trong trường hợp này không chỉ nói đến cộng đồng tín hữu địa phương nhưng còn nói đến các cơ quan và các ban ngành trong giáo hội. Tín nhân Báp-tít chủ trương quảng bá Tin Lành cứu rỗi đến cùng muôn dân và môn đệ hóa tín nhân Đấng Christ.

Ma-thi-ơ 8:19-20 18Vả, khi Ðức Chúa Jêsus thấy đoàn dân đông lắm ở xung quanh mình, bèn truyền qua bờ bên kia. 19Có một thầy thông giáo đến, thưa cùng Ngài rằng: Lạy thầy, thầy đi đâu, tôi sẽ theo đó.

Ê-phê-sô 4:11-13 11Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư, 12để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Ðấng Christ, 13cho đến chừng chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Ðức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhơn, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Ðấng Christ.

Ma-thi-ơ 25:31-46 31Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. 32Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra; 33để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả. 34Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất. 35Vì ta đói, các ngươi đã cho ta ăn; ta khát, các ngươi đã cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta; 36ta trần truồng, các ngươi mặc cho ta; ta đau, các ngươi thăm ta; ta bị tù, các ngươi viếng ta. 37Lúc ấy, người công bình sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn; hoặc khát, mà cho uống? 38Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà mặc cho? 39Hay là khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù, mà đi thăm viếng Chúa? 40Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy. 41Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó. 42Vì ta đã đói, các ngươi không cho ăn; ta khát, các ngươi không cho uống; 43ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng. 44Ðến phiên các ngươi nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư? 45Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa. 46Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời.

Ê-phê-sô 4:20-32 20Nhưng anh em học cho biết Ðấng Christ thì chẳng phải như vậy, 21vì anh em đã nghe đạo Ngài, và được dạy dỗ trong Ngài (y theo lẽ thật trong Ðức Chúa Jêsus) 22rằng anh em phải bỏ cách ăn nết ở ngày trước, thoát lốt người cũ là người bị hư hỏng bởi tư dục dỗ dành,
23mà phải làm nên mới trong tâm chí mình, 24và mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Ðức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật. 25Như vậy, mỗi người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình, vì chúng ta làm chi thể cho nhau. 26Ví bằng anh em đương cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn, 27và đừng cho ma quỉ nhơn dịp. 28Kẻ vốn hay trộm cắp chớ trộm cắp nữa; nhưng thà chịu khó, chính tay mình làm nghề lương thiện, đặng có vật chi giúp cho kẻ thiếu thốn thì hơn. 29chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến. 30Anh em chớ làm buồn cho Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc. 31Phải bỏ khỏi anh em những sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu, mắng nhiếc, cùng mọi điều hung ác. 32Hãy ở với nhau cách nhơn từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Ðức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Ðấng Christ vậy.

1 Phi-e-rơ 2:11-17 11Hỡi kẻ rất yêu dấu, anh em như người ở trọ, kẻ đi đường, tôi khuyên phải kiêng những điều xác thịt ưa thích, là điều chống trả với linh hồn. 12phải ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, hầu cho họ là kẻ vẫn gièm chê anh em như người gian ác, đã thấy việc lành anh em, thì đến ngày Chúa thăm viếng, họ ngợi khen Ðức Chúa Trời. 13Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc loài người lập lên, hoặc vua, như đấng rất cao, 14hoặc các quan, như người vua sai ra để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành. 15Vì anh em làm điều lành để ngăn miệng những kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Ðức Chúa Trời. 16Hãy ăn ở như người tự do, nhưng chớ dùng tự do làm cái màn che sự hung ác, song phải coi mình là tôi mọi Ðức Chúa Trời. 17Hãy kính mọi người; yêu anh em; kính sợ Ðức Chúa Trời; tôn trọng vua.


Two Offices of the Church (Pastor and Deacon) – Hai Chức Vụ Mục Sư và Chấp Sự
1 Ti-mô-thê 3:1-13 – 1Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3Ðừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Ðức Chúa Trời? 6Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. 8Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Ðức Chúa Giê-xu Christ.

Tít 1-2 – 1 Ta, Phao-lô, tôi tớ của Ðức Chúa Trời và sứ đồ của Ðức Chúa Giê-xu Christ, để đưa các người được chọn của Ðức Chúa Trời đến đức tin và sự thông hiểu lẽ thật, là sự sanh lòng nhân đức, 2 trông cậy sự sống đời đời, là sự sống mà Ðức Chúa Trời không thể nói dối đã hứa từ muôn đời về trước,

Saved Church Membership – Hội Viên Hội Thánh Gồm Những Người Được Cứu
Ma-thi-ơ 16:16-18 – 16Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Chúa là Ðấng Christ, con Ðức Chúa Trời hằng sống. 17Bấy giờ, Ðức Chúa Giê-xu phán cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu, bèn là Cha ta ở trên trời vậy. 18Còn ta, ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó.

Ê-phê-sô 5:23-32 – 21Hãy kính sợ Ðấng Christ mà vâng phục nhau. 22Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, 23vì chồng là đầu vợ, khác nào Ðấng Christ là đầu Hội thánh, Hội thánh là thân thể Ngài, và Ngài là Cứu Chúa của Hội thánh. 24Ấy vậy, như Hội thánh phục dưới Ðấng Christ, thì đờn bà cũng phải phục dưới quyền chồng mình trong mọi sự. 25Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Ðấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh, 26để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Ðạo làm cho Hội tinh sạch, 27đặng tỏ ra hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài.
28Cũng một thể ấy, chồng phải yêu vợ như chính thân mình. Ai yêu vợ mình thì yêu chính mình vậy. 29Vì chẳng hề có người nào ghét chính thân mình, nhưng nuôi nấng săn sóc nó như Ðấng Christ đối với Hội thánh, 30vì chúng ta là các chi thể của thân Ngài. 31Vậy nên người đờn ông phải lìa cha mẹ mà dính díu với vợ mình, hai người cùng nên một thịt. 32Sự mầu nhiệm ấy là lớn, tôi nói về Ðấng Christ và Hội thánh vậy.

Cô-lô-se 1:18 – 18Ấy cũng chính Ngài là đầu của thân thể, tức là đầu Hội thánh. Ngài là ban đầu sanh trước nhứt từ trong những kẻ chết, hầu cho trong mọi vật, Ngài đứng đầu hàng.

(Xin đọc tiếp)


 

 

Check here for ngi and related to cha
Fastest FTPS and FTPS on the planet FREE Go FTP Program