COLUMBIA BAPTIST CHURCH
HỘI THÁNH TIN LÀNH BÁP TÍT PHỤC HƯNG
103 West Columbia Street, Falls Church, VA 22046
Telephone (703) 942- 8303
        Email: trannhutthang@gmail.com
     (Bản Đồ)


CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT

Chúa Nhật

Trường Chủ Nhật

Thờ Phượng

Thông Công

Mời Các Bạn Nghe
Con Đường Vĩnh Phúc

1:30 - 2:30PM

3:00 - 5:00 PM

5:00 -6:00 PM

5:30-600 PM

Thứ Hai
Học Kinh Thánh Tại Nhà Mục Sư 2:00- 3:00 PM
Thứ Tư
Mời Bạn Hữu Nghe Con Đường Vĩnh Phúc 7:30 PM
Thứ Năm
Hiệp Nguyện và Chia Sẻ Lời Chúa 7:00PM-8:00PM
Thứ Bảy
Thông Công Taị Tư Gia 7:00PM


CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH


Đầy Dẫy Đức Thánh Linh (tt)
Đầy Dẫy Đức Thánh Linh
Thờ Cúng Ông Bà
Đạo Nào Cũng Giống Nhau







CÁC ÂN TỨ
Sứ Đồ, Tiên Tri, Nói Tiếng Lạ, Chữa bệnh, Làm Phép Lạ …
VẪN CÒN HAY ĐÃ CHẤM DỨT ?

Mục sư Tiến sĩ Trần Đào -Viện Trưởng Viện Thần Học Báp Tít Việt Nam

 

LỜI GIỚI THIỆU: Website baptitphuchung.com hân hạnh được giới thiệu cùng quý bạn một bài viết giá trị về Thần Học của Mục sư Trần Đào, tiến sĩ Viện trưởng viện Thần Học Báp Tít Việt Nam tại TX. Chúng tôi rất hân hạnh và sẵn sàng phổ biến các bài viết sưu tầm, nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến Thần học, Thánh Kinh. Dĩ nhiên, việc đăng bài của tác giả trên website của chúng tôi không có nghĩa là chúng tôi đồng ý với lập luận của tác giả. MS Trần Nhựt Thăng.
***

Quan điểm cho rằng tất cả ân tứ Thánh Linh Chúa ban cho hội thánh đều còn hiện hữu và đang hoạt động. (Quan điểm của tác giả)

Các ân tứ phép lạ vẫn còn
Những người tin vào ân tứ phép lạ vẫn còn tin rằng tất cả các ân tứ được liệt kê trong Kinh Thánh đều vẫn còn hoạt động và thật ra nhiều người theo khuynh hướng này tin rằng Đức Chúa Trời đang phục hưng các ân tứ trên trong thế kỷ qua và có thể sẽ gia tăng hơn nữa. Sử gia ân tứ, Vinson Synan đã viết về năm đầu của thiên niên kỷ thứ ba, “Đối với tín hữu của Chúa Cứu Thế ngày kỷ niệm này là ngày đặc biệt vì nó đánh dấu thời gian hai ngàn năm của lịch sử Cơ Đốc giáo. Nhưng đối với hàng triệu tín hữu Ngũ Tuần và Ân Tứ ngày kỷ niệm này cũng đánh dấu 100 năm phong trào phục hưng Ngũ Tuần và Ân Tứ…Bắt đầu với một nhóm sinh viên tại Topeka, Kansas vào ngày đầu năm năm 1901, tín hữu khắp thế giới đã kinh nghiệm sự phục hưng các ân tứ Đức Thánh Linh, sự phục hưng này đã làm lu mờ mọi điều đã thấy từ khi hội thánh đầu tiên. Phong trào này hiện bao gồm số tín hữu đông thứ nhì (sau Công Giáo) từ mọi quốc gia, chủng tộc trên thế giới.”
Những người tin vào ân tứ phép lạ vẫn còn tin rằng nhận Báp-tem trong Thánh Linh là tiếp nhận quyền năng của Đức Thánh Linh qua các ân tứ để làm chứng và phục vụ Chúa. Giáo sư Douglas A. Oss giải thích, “Khi những người Ngũ Tuần nói đến việc nhận Thánh Linh như là một kinh nghiệm sau khi được cứu rỗi, họ nói đến công việc của Đức Thánh Linh khi ban thêm năng lực cho tín hữu qua các ân tứ để làm chứng đạo và thi hành các mục vụ.”
Những người tin vào ân tứ phép lạ vẫn còn tin rằng Đức Thánh Linh đã hoạt động ban quyền năng cho con dân Chúa trong Cựu Ước để nói tiên tri (1Sam 10:6; 2Sam 23:2; 1 Sử Ký 12:18…), làm phép lạ, lãnh đạo..hay những kỹ năng chế tạo các vật dụng trong nhà Chúa (Xuất 35:31).
Kinh Thánh Cựu Ước cũng cho thấy Đức Chúa Trời đã chuẩn bị để ban quyền năng Đức Thánh Linh cho toàn dân Chúa trong thời đại cuối cùng chứ không phải chỉ một số người đặc biệt mà thôi. Môi-se đã ám chỉ đến ý niệm này (Dân Số 11:29). Tiên tri Giô-ên 2:28-32 ghi rõ lời hứa này trong Kinh Thánh Cựu Ước và lời tiên tri này đã được Phê-rơ trích dẫn để xác nhận sự ứng nghiệm của nó trong dịp lễ Ngũ Tuần (Công Vụ 2:16-21). Sứ Đồ Phê-rơ cũng nói rõ sự ứng nghiệm này là cho “những ngày sau cùng” (Công Vụ 2:17) tức là cho thời đại hội thánh.
Những người tin vào ân tứ phép lạ vẫn còn tin rằng sự tiếp nhận Đức Thánh Linh khi tin Chúa và phép Báp-tem trong Thánh Linh có thể xảy ra cùng trong một loạt biến cố, hoặc sự tiếp nhận quyền năng qua lễ báp-tem trong Thánh Linh xảy ra sau khi tin Chúa và nhận Đức Thánh Linh. “Quan điểm thông thường tôi học được trong tư cách một người Ngũ Tuần là: ‘trong Kinh Thánh Tân Ước cả sự cứu rỗi và báp-tem trong Thánh Linh thường xảy ra như một phần của một loạt biến cố phức tạp cải đạo-nhập đạo. Vì thế mô hình lý tưởng cho đức tin trong Tân Ước là người mới tin Chúa cũng được báp-tem trong Thánh Linh ngay khi người đó mới bắt đầu đời sống tín hữu.”
Người tin vào ân tứ phép lạ vẫn còn tin rằng sự dạy dỗ về Đức Thánh Linh trong Phúc Âm Lu-ca và Công Vụ nhấn mạnh đến sự ban thêm quyền năng (Công Vụ 1:8) để làm chứng đạo và thi hành các mục vụ trong hội thánh trong khi đó Phao-lô chú trọng đến công việc của Đức Thánh Linh trong sự cải đạo và biến đổi nội tâm và đạo đức nơi nguời tín hữu. Sự dạy dỗ về Đức Thánh Linh trong Phúc Âm Lu-ca và Công Vụ không có gì mâu thuẫn với sự dạy dỗ về Đức Thánh Linh của Phao-lô trong các thư tín nhưng thật ra là hai sự dạy dỗ bổ túc cho nhau.
Giáo sư Robert P. Menzies trong tác phẩm Empowered For Witness, The Sprit in Luke- Acts, đã cho thấy qua các câu chuyện về sự giáng sinh của Chúa Giê-su (Lu-ca 1-2) những lời tiên tri trong Cựu Ước đã ứng nghiệm. Vai trò của Đức Thánh Linh trong sự ứng nghiệm này là quan trọng. Giăng Báp-tít, vị tiên tri tiền phong cho Chúa Giê-su đã được đầy dẫy Thánh Linh từ trong bụng mẹ (Lu-ca 1:15). Giăng Báp-tít sẽ đóng vai trò như tiên tri Ê-li thời Cựu Ước (1:17). Như thế Đức Thánh Linh là Đấng giúp cho Giăng Báp-tít làm công việc của một vị tiên tri.
Nhân vật kế tiếp được đầy dẫy Thánh Linh là Ê-li-sa-bét và bà này đã công bố lời chúc phúc cho Ma-ri. Thầy tế lễ Xa-cha-ri được đầy dẫy Thánh Linh và nói tiên tri (Lu-ca 1:67). Lu-ca cũng ghi chép sự kiện Si-mê-ôn được Đức Thánh Linh báo cho biết về Chúa Cứu Thế và ông đã ca ngợi Chúa (Lu-ca 2:29-32). ‘Qua sự phân tích các câu Kinh Thánh trên, rõ ràng rằng Lu-ca không những chỉ chú trọng vào Đức Thánh Linh nhưng sự hiểu biết của ông về Đức Thánh Linh liên hệ mật thiết với các biến cố tiên tri.”
Trong biến cố giáng sinh của Chúa Giê-su Đức Thánh Linh là nguồn gốc của quyền năng sáng tạo. Lu-ca mô tả Chúa Giê-su được hoài thai bới Đức Thánh Linh để so sánh với sự ra đời của Giăng Báp-tít, một vị tiên tri; Chúa Giê-su được trình bày như là Đấng Cứu Thế cũng mang vai trò tiên tri nhưng siêu việt hơn.
Giáo sư Menzies cho rằng lời tiên tri của Giăng Báp-Tít, “Ngài sẽ làm báp-tem cho các người bằng Thánh Linh và bằng lửa.” (Lu-ca 3:16) được ứng nghiệm tại lễ Ngũ Tuần và qua sự giảng dạy đầy quyền năng của Đức Thánh Linh bởi các Sứ Đồ như là phương tiện (lửa) để sàng sảy dân I-sơ-ra-ên. Lửa ở đây không nói về sự tinh luyện cá nhân mà là tinh luyện dân Do Thái. “Như thế theo quan điểm của Lu-ca, lời tiên tri của Giăng Báp-Tít đã được ứng nghiệm tiên khởi tại lễ Ngũ Tuần và tiếp tục ứng nghiệm qua sứ mệnh được Thánh Linh ban quyền năng của hội thánh.”
Theo giáo sư Menzies, những biến cố báp-tem, chịu cám dỗ và bắt đầu chức vụ của Chúa Giê-su (Lu-ca 3:21-22; 4:1; 14) đều có sự xác chứng và hỗ trợ của Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh ngự xuống trên Chúa Giê-su khi Ngài chịu lễ báp-tem là sự xức dầu để bắt đầu sứ mệnh Tin Mừng cứu rỗi. Đức Thánh Linh thêm năng lực để Chúa Giê-su chiến thắng cám dỗ; Lu-ca nói rõ “Đức Giê-su đầy quyền năng của Đức Thánh Linh, trở về Ga-li-lê.” Trong khi đó Giáo sư James Dunn, người chủ trương chỉ có một phép báp-tem nhận lãnh Đức Thánh Linh, cho rằng lễ báp-tem của Chúa Giê-su tại sông Giô-đanh chủ yếu là lễ khai trương thời đại cuối cùng, không phải là biến cố thêm năng quyền, “Vì sự xức dầu bằng Đức Thánh Linh chủ yếu là một kinh nghiệm khai trương, biến cố này khai trương thời đại cuối cùng và là lễ mà Chúa Giê-su khai mạc chức vụ của Ngài.” Ý nghĩa ‘khai trương thời đại cuối cùng’ là đúng, nhưng nếu xét biến cố này chung với các đoạn Kinh Thánh khác về việc chiến thắng cám dỗ, bắt đầu chức vụ (Lu-ca 4) người ta thấy rằng ý niệm thêm năng lực bởi Đức Thánh Linh luôn luôn tiềm ẩn trong đó. Giáo sư Menzies viết, “Theo Lu-ca, Chúa Giê-su được xức dầu bởi Đức Thánh Linh, thay vì là nguồn của sự liên hệ đặc thù với Đức Chúa Trời hay là sự khai trương thời đại mới, nhưng là phương tiện nhờ đó Chúa Giê-su đuợc trang bị để thực thi sứ mệnh thiêng liêng của Ngài.”
Chúa Giê-su hứa với các môn đệ “Ta ban cho các con điều Cha ta đã hứa; nhưng các con hãy đợi trong thành cho đến khi các con được mặc lấy quyền năng từ trời.”. ( Lu-ca 24:49) Điều Đức Chúa Cha đã hứa đây chính là Đức Thánh Linh. Và khi Đức Thánh Linh giáng xuống trong dịp lễ Ngũ Tuần, lời hứa này đã được ứng nghiệm. Trong cả hai lời hứa (Lu-ca 24:49) và (Công Vụ 1:8) các môn đệ đã được mặc lấy quyền năng của Đức Thánh Linh để làm nhân chứng cho Chúa Cứu Thế và Phúc Âm của Ngài. Giáo sư Menzies cho rằng “Đối với Lu-ca lời hứa về Đức Thánh Linh chỉ về món quà Thần Linh tiên tri trong Giô-ên3:1. Lời hứa này đã được ứng nghiệm tại lể Ngũ Tuần (Công Vụ 2:4) truyền đạt quyền năng cần thiết cho các môn dồ để thi hành chức vụ tiên tri.”
Để giải thích đầy đủ về biến cố Ngũ Tuần, những người ân tứ cho rằng Lu-ca đã mô tả Đức Thánh Linh như là nguồn thần cảm tiên tri (The source of prophetic inspiration); sự rao truyền Phúc Âm. Trong lễ Ngũ Tuần Đức Thánh Linh được ban xuống vĩnh viễn, không phải từng lúc, từng hồi như trong Cựu Ước, để ban năng lực cho các môn đồ thi hành nhiệm vụ của họ.
Đức Thánh Linh trong lễ Ngũ Tuần là Thần Linh tiên tri được ban xuống cho con dân Chúa.
Trong khi Đức Thánh Linh là nguồn của sự thần cảm tiên tri, lời tiên tri Giô-ên cũng cho thấy ân tứ tiên tri cũng được thể hiện bằng chiêm bao và khải tượng ((Công Vụ 2:17).
Mục đích của ân tứ tiên tri được ghi nhận trong Lu-ca 24:49 và Công Vụ 1:8 là để trang bị quyền năng cho các môn đệ thi hành đại Sứ mệnh của họ.
Đức Thánh Linh trong lễ Ngũ Tuần được ban xuống cho toàn thể con dân Chúa, bao gồm tín hữu Do Thái lẫn ngoại quốc.
Đức Thánh Linh trong lễ Ngũ Tuần là dấu hiệu cho thời đại cuối cùng (Công Vụ 2:17). Dấu hiệu này cũng như những dấu kỳ, phép lạ bắt đầu từ lễ Ngũ Tuần nhưng sẽ kéo dài cho đến Ngày của Chúa.

Lễ hội nhập tín hữu và ân tứ Thánh Linh
Những người ân tứ tin rằng sự tiếp nhận Đức Thánh Linh ( Công Vụ 8:12-17) của những tín hữu Sa-ma-ri là sự tiếp nhận quyền năng của Đức Thánh Linh như các Sứ Đồ tại lễ Ngũ Tuần. Lu-ca phản ánh hội thánh như là một cộng đồng tiên tri thi hành sứ mệnh truyền giáo. Những người Sa-ma-ri này là những người nghe Phi-líp truyền giảng, tin Chúa Giê-su và nhận lễ Báp-tem. Không có chỗ nào chứng tỏ rằng sứ điệp Phúc Âm của Phi-líp là thiếu xót hay sai lầm. Những người này tin Chúa Giê-su và nhận lễ Báp-tem nhân danh Chúa Giê-su cho nên điều giả định tự nhiên là họ đã là tín hữu. Như thế đây không phải là lễ hội nhập tín hữu mà là tiếp nhận quyền năng Thánh Linh.
Ngoài ra hành động đặt tay cầu nguyện cũng nói lên tính cách ban bố quyền năng, ủy nhiệm, sai phái những người Sa-ma-ri thi hành sứ mệnh truyền giáo của hội thánh.
Biến cố viên đội trưởng Cọt-nây và gia đình tiếp nhận Đức Thánh Linh (Công Vụ 10:27-48) thường được những người không tin ân tứ phép lạ vẫn còn giải thích rằng phép Báp-tem trong Thánh Linh tức là tiếp nhận Thánh Linh khi tin Chúa. Điều này đúng nhưng cũng không loại bỏ ý nghĩa nhận quyền năng của Đức Thánh Linh đồng thời với tiếp nhận Đức Thánh Linh vì Phê-rơ coi việc tiếp nhận Chúa của gia đình này cũng như là chính ông và các môn đệ nhận Đức Thánh Linh trong lễ Ngũ Tuần dù họ đã có Đức Thánh Linh trong lòng và họ đã là tín hữu của Chúa Cứu Thế.
Biến cố về những người môn đệ tại Ê-phê-sô được nhiều người không tin ân tứ phép lạ vẫn còn trưng dẫn để cho thấy phép báp-tem bằng nước là biểu tượng của sự tiếp nhận Đức Thánh Linh. Tuy nhiên giáo sư Menzies cho rằng A-bô-lô đã được Bê-rít-sin và A-qui-la dạy con đường hay đạo Chúa một cách chính xác, như vậy A-bô-lô là một tín hữu của Chúa Giê-su và những môn đệ ở Ê-phê-sô có thể là những người tin Chúa qua A-bô-lô, vì thế Lu-ca gọi họ là “môn đệ”. Nếu họ đã là môn đệ hay tín hữu thì việc nhận Đức Thánh Linh có nghĩa là nhận quyền năng của Đức Thánh Linh. Ngoài ra những người này được Phao-lô đặt tay cầu nguyện hay ủy nhiệm sứ mệnh truyền giáo càng xác chứng cho ý nghĩa “tiếp nhận quyền năng của Đức Thánh Linh” hơn là tiếp nhận Đức Thánh Linh khi tin Chúa.
Như vậy, theo quan điểm của Lu-ca, những người Ê-phê-sô nhận ân tứ Thánh Linh cũng giống như những người Sa-ma-ri, Phao-lô, gia đình Cọt-nây và các môn đệ của Chúa tại Giê-ru-sa-lem nhân ngày lễ Ngũ Tuần. Trong mỗi trường hợp Đức Thánh Linh đã đến trên cá nhân hay nhóm để ban năng lực tiên tri cho những tín hữu này để họ thi hành hữu hiệu sứ mệnh đã được truyền cho con dân tiên tri của Chúa.”
Tóm lại những người tin vào ân tứ phép lạ vẫn còn tin rằng ân tứ Thánh Linh và báp-tem trong Thánh Linh là ân điển thứ hai, là nguồn năng lực ban cho tín hữu để làm chứng hay thi hành hữu hiệu Đại Sứ Mệnh của Chúa.

Tất cả các ân tứ Thánh Linh đều còn hiện hữu trong hội thánh hiện nay
Những người tin vào ân tứ phép lạ vẫn còn tin rằng tất cả những ân tứ Thánh Linh trong Kinh Thánh đều còn hiện hữu và nhiều người cho rằng các ân tứ này đã phục hồi từ hơn một thế kỷ nay tại Hoa Kỳ và đã lan rộng trên khắp thế giới. Theo The New International Dictionary of Pentecostal and Charismatic Movements, số tín hữu ân tứ trên khắp thế giới từ cuộc phấn hưng ân tứ năm 1900 đến giữa năm 2000 là 795 triệu người. Giáo sư C. Samuel Storms đã nêu lên năm lý do để chứng minh rằng tất cả các ân tứ liệt kê trong Kinh Thánh đều còn hoạt động.
1/ Kinh Thánh không hề nêu lên một lý do chứng tỏ các ân tứ này không còn giá trị. Bắt đầu từ lễ Ngũ Tuần, tiếp tục trong sách Công Vụ cho đến các hội thánh đầu tiên; không có bằng chứng nào cho thấy các ân tứ này chỉ giới hạn trong các hội thánh đầu tiên mà thôi. Thật ra các ân tứ này đã xuất hiện rộng rãi và bình thường trong khắp các hội thánh thời Tân Ước.
2/ Mục đích tối hậu của ân tứ Thánh Linh là xây dựng thân thể (hội thánh) Chúa Cứu Thế (1Cor 12:7; 14:3, 26). Tôi không thấy chỗ nào trong Kinh Thánh Tân Ước cho rằng tình trạng của hội thánh trong quá khứ cũng như hiện tại không cần xây dựng nữa và vì thế không cần các ân tứ Thánh Linh.
3/ Ba đoạn Kinh Thánh sau (1Cor 1:4-9; Êph 4:11-13 và 1Cor 13:8-13) cho thấy các ân tứ Thánh Linh vẫn còn hoạt động cho đến khi Chúa Cứu Thế Giê-su xuất hiện; “cho đến khi tất cả chúng ta đạt đến sự hợp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời , đến mức trưởng thành, đến tầm thước vóc dáng đầy trọn của Chúa Cứu Thế.” Và tôi tin rằng 1Cor 13:8-13 cho thấy các ân tứ sẽ châm dứt khi cõi vĩnh cửu toàn hảo đến, tức là khi Chúa Giê-su tái lâm.
4/ Các ân tứ cũng như các nguyên tắc , nghi lễ trong hội thánh được Chúa thiết lập cho hội thánh thời Tân Ước cũng như hiện nay. Không có bằng chứng nào chứng tỏ rằng những ân tứ này chỉ là tạm thời cho hội thánh thế kỷ đầu tiên mà thôi.
5/ Tôi không tin rằng Đức Thánh Linh chỉ giáng xuống để khai mạc thời đại mới rồi biến mất. Đức Thánh Linh cùng với các ân tứ và bông trái của Ngài đánh dấu thời đại mới này như Giáo sư D.A. Carson đã viết, “Sự giáng xuống của Đức Thánh Linh không phải chỉ liên hệ đến thời mở màn cho thời đại mới nhưng sự hiện diện của Ngài không những chỉ trong ngày lễ Ngũ Tuần nhưng trong suốt thời đại từ Ngũ Tuần cho đến khi Chúa Cứu Thế Giê-su tái lâm.”
Nói tóm lại, mục đích chính của các ân tứ Thánh Linh là “vì lợi ích chung” (1Cor 12:7) và “nhằm mục đích trang bị các thánh đồ cho công tác phục vụ, gây dựng thân thể Chúa Cứu Thế.” (Êph 4:12)
Nếu mục đích chính của Chúa khi ban các ân tứ Thánh Linh là để trang bị cho tín hữu và xây dựng hội thánh Chúa thì chúng ta không thấy lý do gì Chúa lại ngưng ban ân tứ Thánh Linh cho tín hữu và hội thánh trong khi tất cả các tín hữu đều cần được trang bị để hoàn thành Đại Sứ Mệnh cho Chúa, và toàn thể hội thánh đều cần được xây dựng để phát triển, trở nên hoàn hảo, toàn bích trước khi Chúa tái lâm.
Điều chúng ta cần cảnh giác là những tiên tri giả, giáo sư giả đã nhân danh Chúa lợi dụng, lừa dối, lường gạt người ta để thủ lợi.

Hãy tận dụng mọi ân tứ, khả năng Chúa ban cho để thi hành sứ mệnh làm chứng nhân cho Chúa, truyền bá Phúc Âm và môn đệ hóa muôn dân.
Phao-lô khuyên tín hữu tại hội thánh Cô-rinh-tô:
“Hãy theo đuổi tình yêu thương, hãy khao khát tìm kiếm các linh ân, đặc biệt là ân tứ nói tiên tri.” (1Cor 14:1)
Vì đây là điều Đức Chúa Trời đã hứa cho thời đại Chúa Cứu Thế qua tiên tri Giô-ên,
“Trong những ngày sau cùng,
Ta sẽ đổ Thánh Linh ta trên tất cả mọi người,
Con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri.”(Công 2:17)
Chính Chúa Giê-su cũng đã hứa với môn đệ Ngài,
“Nhưng các con sẽ nhận lãnh quyền năng khi Đức Thánh Linh đến trên các con, và các con sẽ làm nhân chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến tận cùng quả đất.” Công vụ 1:8
Các tín hữu của hội thánh đầu tiên đã khẩn thiết cầu nguyện và nhận được báp-tem bằng Đức Thánh Linh, nghĩa là nhận được chính Đức Thánh Linh và quyền năng của Ngài để làm chứng nhân truyền giảng Phúc Âm cứu rỗi của Chúa Giê-su từ nơi cộng đồng họ đang sinh sống, tức là Giê-ru-sa-lem, cho đến tận Rô-ma, thủ phủ của đế quốc lớn nhất thế giới thời bấy giờ.
Để có quyền năng làm chứng nhân truyền giảng Phúc Âm cứu rỗi của Chúa cho toàn thể nhân loại, chúng ta cần phải cầu nguyện để được “đầy dẫy Thánh Linh”. (Êph 6:18)
Đức Thánh Linh sẽ ban quyền năng siêu nhiên của Ngài cùng các ân tứ Thánh Linh cho tất cả tín hữu để làm chứng nhân hữu hiệu cho Chúa và xây dựng hội thánh Ngài.
Sứ Đồ Phê-rơ đã khuyên chúng ta nên sử dụng ân tứ của mình để phục vụ người khác,
“Mỗi một người nên dùng ân tứ đã nhận lãnh để phục vụ người khác như một người quản trị giỏi, khéo quản trị ân sủng khác nhau của Đức chúa Trời.” (1Phê-rơ 4:10) Sứ Đồ Phê-rơ cũng phân các ân tứ Thánh Linh ra làm hai loại, những ân tứ liên quan đến ngôn ngữ và những ân tứ phục vụ bằng chân tay.
Những ân tứ sử dụng ngôn ngữ
Phê-rơ khuyên chúng ta: “Nếu có ai giảng luận thì hãy giảng như nói ra lời của Đức Chúa Trời;” (1Phê-rơ 4:11)
Những ân tứ chủ yếu dùng ngôn ngữ gồm có tiên tri, giảng dạy, truyền giáo, khích lệ, nói tiếng lạ, thông giải tiếng lạ…

B.Những ân tứ phục vụ
“Nếu có ai phục vụ, hãy phục vụ bằng sức mạnh Chúa ban.” (1Phê-rơ 4:11)
Những ân tứ dùng sức mạnh, chân tay để phục vụ bao gồm những mục vụ quản trị, từ thiện, xã hội, chữa bệnh, trừ tà….Hội thánh Đức Chúa Trời cần cả hai loại ân tứ này. Hội thánh đầu tiên đã tận dụng các ân tứ khác nhau thuộc cả hai loại ân tứ trên để phát triển.
Nghiên cứu những hoạt động của hội thánh đầu tiên trong các sách Phúc Âm và Công Vụ người ta thấy một vài điểm cần chú ý.
1/ Chính Chúa Giê-su, các Sứ Đồ và môn đệ của hội thánh đầu tiên chủ yếu chú trọng vào việc truyền giảng Phúc Âm cứu rỗi, dạy dỗ Lời Chúa, (Kinh Thánh) còn việc chữa bệnh, đuổi quỷ luôn luôn là thứ yếu.
Các Sứ Đồ chỉ chữa bệnh khi được Đức Thánh Linh cảm thúc và hướng dẫn. Các Sứ Đồ Phê-rơ, Phao-lô có ân tứ chữa bệnh; ngay cả cứu người chết sống lại; nhưng họ không bao giờ trở nên người “chữa bệnh bằng đức tin chuyên nghiệp”.
Ân tứ Thánh Linh là ân tứ do Chúa ban cho một người theo ý Ngài. (1Côr 12:11) Điều này có nghĩa là Đức Thánh Linh chỉ ban cho một người nào đó, vào một thời điểm nhất định, cho một đối tượng đặc biệt mà thôi. Ân tứ Thánh Linh không phải là một khả năng thường trực, vĩnh viễn và người có ân tứ không có quyền sử dụng lúc nào tùy ý, mà phải theo ý Đức Thánh Linh, theo thời điểm Ngài muốn, cho người nào Ngài muốn giúp.
2/ Các Sứ Đồ và những môn đệ của hội thánh đầu tiên không hề tổ chức những chiến dịch, chương trình chữa bệnh cho quần chúng!
Khi một người cho rằng mình có ân tứ chữa bệnh rồi lập chiến dịch, chương trình chữa bệnh; người này đã vi phạm hai điều:
a.Vi phạm vào quyền chủ tể của Đức Thánh Linh
b.Đã làm theo ý riêng của mình chứ không phải theo ý Chúa Thánh Linh.
3/Kinh Thánh không hề dạy hội thánh nên mở những khóa huấn luyện tín hữu “nói tiếng lạ” hay “chữa bệnh”. Thật ra Phao-lô khuyên tín hữu hội thánh Cô-rinh-tô nên khao khát tìm kiếm ân tứ nói tiên tri hơn là nói tiếng lạ. (1Cor 14:1) và tín hữu không nên nói tiếng lạ trong khi thờ phượng nếu không có người thông dịch. (1Cor 14:27-28) Tín hữu có thể nói tiếng lạ trong khi cầu nguyện riêng tư tại nhà riêng.

II. Quan điểm: Những ân tứ phép lạ như nói tiếng lạ, chữa bệnh, tiên tri…đã chấm dứt khi các Sứ Đồ qua đời. (Cessationist)

Chúng ta cần xác nhận một điều là những người theo khuynh hướng này đều là những người tin kính Chúa, hoàn toàn tin rằng Kinh Thánh là Lời vô ngộ của Đức Chúa Trời và Ba Ngôi Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng và đang hoạt động giữa vòng hội thánh cũng như trên thế giới. Những người này tin rằng Đức Chúa Trời vẫn còn làm phép lạ nếu Ngài muốn vì không có gì quá khó cho Ngài nhưng vấn đề ở đây là những “ân tứ phép lạ đã chấm đứt” vì lịch sử và Kinh Thánh cho thấy Chúa không còn sử dụng một số ân tứ này nữa, đặc biệt là những ân tứ phép lạ sau khi các Sứ Đồ qua đời. Những người theo khuynh hướng “ân tứ phép lạ đã chấm dứt” cho rằng:
Lễ Ngũ tuần là một biến cố lịch sử cứu rỗi duy nhất, đặc thù, không tái xuất hiện.
Sách Phúc Âm Lu-ca và Công Vụ là những sách theo thể văn kể chuyện, ghi lại những biến cố lịch sử cứu rỗi và hội thánh Chúa.

Như thế Lu-ca ghi lại những gì đã xảy ra tại lễ Ngũ Tuần như là những biến cố lịch sử đặc thù. Ngoài ra trong suốt Kinh Thánh Tân Ước không có nơi nào ghi nhận lời kêu gọi, “Hãy nhận phép báp-tem trong Thánh Linh”. Hay nói một cách khác Chúa không hề truyền mạng lệnh cho tín hữu hãy nhận phép báp-tem trong Thánh Linh.
Điểm kế tiếp là biến cố báp-tem trong Thánh linh vào ngày lễ Ngũ Tuần là sự ứng nghiệm của những lời tiên tri trong Cựu Ước (Giô-ên2:28-32) và ứng nghiệm lời tuyên bố của Giăng Báp-tít và của Chúa Giê-su ( Lu-ca 3:16; Công Vụ 1:8).
Biến cố Ngũ Tuần là dấu hiệu của sự hoàn thành công trình cứu rỗi của Chúa Giê-su và bắt đầu một kỷ nguyên mới với Đức Thánh Linh, Đấng đã được Chúa Giê-su sai phái đến để thay thế Ngài hiện diện, ban năng lực và hướng dẫn tín hữu và hội thánh Chúa trên đất. Giáo sư Richard B. Gaffin Jr. viết “ Phê-rơ nối kết chặt chẽ các biến cố theo thứ tự: Sự sống lại, thăng thiên, tiếp nhận Đức Thánh Linh, sự đổ đầy dẫy Đức Thánh Linh. Yếu tố cuối, lễ Ngũ Tuần, là biến cố đỉnh cao, chung cuộc. Đây không phải là một biến cố thêm vào; không có điều gì gọi là thứ hai ở đây cả. Sự phục sinh, thăng thiên, Ngũ Tuần, dù cách biệt về thời gian, kết hợp thành một biến cố phức tạp, một lần đủ cả, một biến cố lịch sử cứu rỗi thống nhất, không thể tách rời.”
Như thế chúng ta không nên chờ mong một lễ Ngũ Tuần thứ hai, thứ ba xảy đến cho tín hữu ngày nay.

Phép báp-tem bằng Thánh Linh vào ngày lễ Ngũ Tuần không phải là mô hình của kinh nghiệm báp-tem trong Thánh Linh cho tín hữu ngày nay.

Những người tín hữu gốc Do Thái khi thấy Đức Thánh Linh giáng xuống Cọt-nây và gia đình ông, họ giải thích rằng “Những người này đã tiếp nhận Thánh Linh cũng như chúng ta.” Công Vụ 10:47 và sau đó Phê-rơ đã mô tả biến cố này là phép báp-tem trong Thánh Linh. Phao-lô giải thích cho tín hữu Cô-rinh-tô rằng “Vì trong cùng một Thánh Linh mà chúng ta chịu phép báp-tem để sát nhập vào một thân thể.” của Chúa Cứu Thế (1Côr 12:13). Điều này có nghĩa là một người khi tin nhận Chúa và nhận Đức Thánh Linh hay chịu báp-tem trong Thánh Linh sẽ được kết hợp vào trong thân thể Đấng Cứu Thế. Phao-lô cũng nói với tín hữu Ga-la-ti rằng họ nhận Đức Thánh Linh khi họ nghe và tin Phúc Âm (Ga-la-ti 3:2, 5). Như thế những ai tin nhận Chúa Cứu Thế sẽ nhận Đức Thánh Linh hay nhận báp-tem trong Thánh Linh vì báp-tem trong Thánh Linh là kinh nghiệm của thực thể tiếp nhận Đức Thánh Linh vào lòng, không phải là một kinh nghiệm ân điển thứ hai nào khác.
Những kinh ngiệm báp-tem trong Thánh Linh ở các đoạn Công Vụ 2: 1-46; 8:14; 10:44; 19;1-7 thì sao?
Chúng ta nên nhớ rằng Lu-ca không ghi chép tất cả mọi biến cố theo thời gian nhưng ông chỉ ghi chép một số biến cố chọn lọc và theo một số chủ đề nhất định trong sách Phúc Âm và Công Vụ. Không có bằng chứng nào cho thấy Lu-ca ghi lại những biến cố này như là mô hình cho thế hệ mai sau nhưng đây chỉ là những biến cố đặc thù, chọn lọc để nói đến sự việc những nhân chứng của Phúc Âm cứu rỗi đã đến với mọi chủng tộc như lời hứa của Chúa Giê-su phục sinh : “các con sẽ làm nhân chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến tận cùng quả đất.” Công Vụ 2 ghi lại biến cố xảy ra cho người tín hữu Do Thái ở Giê-ru-sa-lem; Công Vụ 8 ghi lại sự việc tiếp nhận Đức Thánh Linh giữa người Sa-ma-ri; Công Vụ 10 nói đến sự tiếp nhận Đức Thánh Linh giữa người ngoại quốc; Công Vụ 19 ghi chép sự cải đạo của một số môn đệ của Giăng Báp-tít.
Trong bốn biến cố trên, sự việc nói tiếng lạ chỉ là những điều phụ tình cờ cặp theo biến cố tiếp nhận Đức Thánh Linh vì trong nhiều trường hợp tiếp nhận Đức Thánh Linh hay “đầy dẫy Thánh Linh” khác trong sách Công Vụ người ta không nói tiếng lạ.
4. Ngay trong lễ Ngũ Tuần Phê-rơ giảng bài giảng đầu tiên đã có trên ba ngàn người tin Chúa và chiụ lễ báp-tem bằng nước. Những người này được gọi là “tín đồ”, như thế họ đã nhận Đức Thánh Linh khi tin nhưng không có ai nói tiếng lạ (Công Vụ 2:41-47); những tín hữu đầu tiên này chỉ tụ họp thờ phượng Chúa, thông công, học hỏi lời Chúa, cầu nguyện, ca ngợi Chúa một cách vui vẻ. Lu-ca ghi rõ chỉ có “các Sứ Đồ” làm phép lạ (Công Vụ 2: 43).
5. Biến cố gặp Chúa, cải đạo và tiếp nhận Đức Thánh Linh của Phao-lô cũng được Lu-ca ghi chép trong sách Công Vụ chương 9 nhưng rõ ràng Lu-ca không ghi chép biến cố này như là một mô hình cho sự cải đạo và tiếp nhận Đức Thánh Linh của người Do Thái. Bằng chứng là từ đó đến nay không ai dùng điều này làm mô hình cho sự cải đạo và tiếp nhận Đức Thánh Linh.
6. Các ân tứ Sứ Đồ, tiên tri, chữa bệnh và làm phép lạ.. đã chấm dứt .
Những người theo khuynh hướng “ân tứ phép lạ đã chấm đứt” tin rằng các phép lạ trong thời các Sứ Đồ là những dấu hiệu đặc biệt kèm theo để xác nhận các sứ đồ, thẩm quyền và sứ điệp của họ. Giáo sư Gaffin Jr. đã nêu ra những lý do cho rằng các ân tứ chữa bệnh và làm phép lạ được ghi trong 1 Cor 12: 9-10 đã chấm đứt vì các lý do như sau:
a. trong Tân Ước những trường hợp đặc biệt thực sự thực hành các ân tứ này, do Chúa Cứu Thế thăng thiên ban cho, được ghi lại trong Công Vụ mà thôi. Nhưng những hành động này, dù là được chính các sứ đồ, những người họ đặt tay hay những người khác, được kèm theo hoạt động truyền bá Phúc Âm đặc biệt duy nhất của các sứ đồ mà Lu-ca quan tâm ghi chép. Như thế không nên giả định rằng những hoạt động này sẽ tiếp tục trong thời đại sau ”.
b. Gia-cơ 5 suy nghiệm về một hoàn cảnh khác biệt trong sự chữa bệnh. Ở đây quyền năng chữa bệnh không tùy thuộc hay thực hiện hữu hiệu do một cá nhân nhận được quyền năng để làm như thế, nhưng sự chữa bệnh xảy ra qua việc cầu nguyện, không phải chỉ bời các trưởng lão mà thôi, nhưng bởi mọi tín hữu.”
Nhiều người theo khuynh hướng ân tứ phép lạ đã chấm dứt cho rằng trong lịch sử từ Cựu Ước đến Tân Ước các phép lạ đã xảy ra từng cụm như những chùm sao ở vào những thời kỳ đặc biệt trong lịch sử dân Chúa. Người ta thấy phép lạ xảy ra nhiều trong thời kỳ Môi-se, thời kỳ lập pháp, thời kỳ kế tiếp là thời tiên tri Ê-li và Ê-li-sê, thời kỳ tiên tri, thời kỳ kế đến là thời kỳ Chúa Cứu Thế và thời kỳ thứ tư là thời kỳ các Sứ Đồ. Sau đó các phép lạ có thể xảy ra nhưng chỉ thưa thớt và tản mát trong suốt lịch sử hội thánh trên hai ngàn năm nay.
Giáo sư John E. MacArthur, Jr. cho rằng các phép lạ trong Kinh Thánh mang ba đặc tính:
Các phép lạ giới thiệu một thời đại mạc khải mới.
Cả ba thời kỳ có nhiều phép lạ đều mang đặc tính này. Thời kỳ phép lạ vào thời Môi-se
giới thiệu luật pháp. Thời kỳ phép lạ Ê-li, Ê-li-sê giới thiệu thời tiên tri. Thời kỳ phép lạ trong thời Chúa Giê-su và Sứ Đồ giới thiệu thời đại Tân Ước và đa số các Sứ Đồ viết hầu hết toàn bộ Kinh Thánh Tân Ước.
Các phép lạ xác chứng thẩm quyền thật sự của các sứ giả mạc khải.
Tất cả các phép lạ đều có một mục đích quan trọng, chúng xác chứng thẩm quyền thật rằng các sứ giả hay tiên tri tuyên xưng lời Chúa. Họ là phát ngôn nhân của Chúa. Những phép lạ chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đã phán qua những sứ giả này.
Các phép lạ lôi cuốn sự chú ý đến mạc khải mới. Đức Chúa Trời đã dùng phép lạ để dân chúng khi nghe các sứ điệp họ biết rằng chính Chúa thiêng liêng đang phán với họ.

Chúng ta sẽ bàn đến những ân tứ nhiều người cho rằng đã chấm dứt :

Ân tứ Sứ Đồ
Từ ngữ ‘sứ đồ’ (apostolos) được dùng theo ba nghĩa trong Kinh Thánh Tân Ước.
1/Nghĩa thứ nhất là ‘người được sai phái’ (Giăng 13:16; 17:18). Trong ý nghĩa này tất cả tín hữu đều là những người được Chúa sai phái vào thế gian, như thế đây không phải là một ân tứ cho một số người nào thôi.
2/Ý nghĩa thứ hai của từ ‘sứ đồ’ nói đến những người được hội thánh sai phái đi làm một sứ mệnh nào đó (2Cor 8:23; Phil 2:25). Trong ý nghĩa này người ta có thể áp dụng cho các giáo sĩ ngày nay.
3/Ý nghĩa thứ ba chỉ về mười hai Sứ Đồ do Chúa Giê-su chọn, thêm Phao-lô và Gia-cơ, em Chúa (Ga-la-ti 1:19) hoặc một hai người nữa đồng thời với các Sứ Đồ. Đây là những người đặc biệt chứng kiến sự chết, sống lại của Chúa Giê-su, do chính Ngài ủy nhiệm và được Đức Thánh Linh thần cảm để dạy dỗ. Trên nguyên tắc đây là những người đặc biệt, không có người kế thừa chức vụ này.
Như thế ngày nay ân tứ sứ đồ vẫn còn nhưng chỉ nên hiểu theo ý nghĩa ‘sứ giả, giáo sĩ’ do hội thánh sai phái đi truyền giáo, mở mang hội thánh mới.

Ân tứ tiên tri
Tiên tri là người nhận và nói ra lời hay sứ điệp của Chúa. Sứ điệp này có thể là những giáo huấn, tuyên bố, lời hứa hay phán xét; những lời hứa hay phán xét có thể sẽ xảy ra trong tương lai cho nên lời tiên tri trở nên tiên báo về tương lai. Nói một cách khác tiên tri là những người nhận mạc khải của Chúa và nói ra lời của Chúa. Đây là lý do chúng ta thấy hàng trăm lần những lời như: “Đây là lời Chúa phán”, “Chúa phán thế này”, “Chúa phán cùng tôi” v.v.trong Kinh Thánh. Nếu lời tiên tri là lời mạc khải của Đức Chúa Trời thì chúng ta thấy Đức Chúa Trời đã mạc khải đầy đủ nhất trong Con Ngài, là Chúa Cứu Thế Giê-su. ‘Vì trong Ngài tất cả đầy đủ thần tính Đức Chúa Trời ngự trong thân xác.” Côl 2:9 Ngoài ra quy điển Kinh Thánh cũng đã đóng lại với sách Khải Huyền vì Lời Chúa đã được mạc khải đầy đủ cho nhân loại. Kinh Thánh là mạc khải chữ viết về chương trình cứu rỗi từ Sáng Thế đến kỳ tận thế, sự tái lâm của Chúa Cứu Thế để nhận Vương Quốc Đức Chúa Trời và lập trời mới đất mới. Kinh Thánh không nói về tất cả mọi sự nhưng nói đầy đủ về Đức Chúa Trời, Chúa Cứu Thế và chương trình cứu rỗi nhân loại, vì thế ngày nay loài người nếu mong muốn có thể hiểu biết đủ về Đức Chúa Trời, Chúa Cứu Thế và sự cứu rỗi để tin tưởng và được cứu. Đức Chúa Trời không cần thiết phải mạc khải thêm điều gì mới để con người có thể biết và được cứu rỗi. Giu-đe 3; Khải Huyền 22:18-19
Những người theo khuynh hướng ‘ ân tứ tiên tri đã chấm dứt’ tin rằng dù Đức Chúa Trời không còn mạc khải nữa nhưng Ngài, qua Đức Thánh Linh vẫn tiếp tục soi sáng (illumination) con dân Chúa để hiểu biết rõ ràng, đúng đắn và sâu sắc cũng như mọi cách áp dụng thực tiễn những gì Ngài đã mạc khải trong thiên nhiên, trong Con Ngài, Chúa Cứu Thế Giê-su và trong Lời Ngài, Kinh Thánh. (Thi 119:18; Êph 1:17; 2Tim 2:7)
Trong thời Cựu Ước, dân Chúa (Israel) theo thể chế Thần Quyền, (Ngày nay không có nước nào theo thể chế Thần Quyền cả, kể cả nước Israel) tiên tri là người dạy dỗ, cảnh cáo, khuyên bảo, tuyên phán những lời hứa của Chúa, khiển trách.. Họ có thể chống đối hình thức tôn giáo bên ngoài nhưng thiếu sự vâng lời Chúa. Tiên tri thường cảnh cáo những hành động vô luân, tình trạng đạo đức suy đồi. Tiên tri là người cổ võ , xây dựng, khuyến khích dân chúng sống công chính, thờ phượng Đức Gia-vê (Giê-hô-va).
Ngày nay “Nói tiên tri có nghĩa là công bố Lời Chúa (Kinh Thánh) với sự khôn ngoan và quyền năng của Đức Thánh Linh. Và với sự trong sáng, lời tiên tri như ánh sáng soi trong nơi tối tăm. (2Phê-rơ 1:19)
Sau thời đại các Sứ Đồ những người tự xưng là tiên tri nhận được những mạc khải mới thường là những người thành lập những nhóm tà giáo. Ngày nay nhiều người mệnh danh là môn đệ Chúa Cứu Thế, có ân tứ tiên tri, nhận được khải tượng, mạc khải mới cũng rơi vào tình trạng lạm dụng, giảng dạy tà giáo, trái với những giáo lý chân chính của Kinh Thánh..
Ân tứ sứ đồ và tiên tri thường được liệt kê kế tiếp nhau và căn cứ trên các câu Kinh Thánh (Êph 2:20; 3:5) sứ đồ và tiên tri là nền móng của hội thánh. Nền móng là phần đầu và căn bản của một kiến trúc; khi nhà đã được xây lên thì không ai đặt lại nền móng. Ngày nay hội thánh (Nhà) của Đức Chúa Trời đang được xây cất vì nền móng đã được xây xong. Như thế sứ đồ và tiên tri đã hoàn thành sứ mệnh của họ trong việc xây cất nền móng cho nhà Chúa và không còn nữa. Một số người cho rằng ân tứ tiên tri với vai trò truyền đạt mạc khải (Revelation) của Đức Chúa Trời để viết thành Kinh Thánh thì không còn nữa nhưng ân tứ tiên tri với ý nghĩa soi sáng (illumination) Lời Chúa thì vẫn còn và những nhà truyền giảng đầy quyền năng ngày nay có thể là những người có ân tứ tiên tri.
Tiêu chuẩn để xác định một tiên tri của Đức Chúa Trời hay lời tuyên bố, dạy dỗ của người đó là sứ điệp của Chúa, là sự thật và lời tiên tri được ứng nghiệm, “Anh chị em có thể nghĩ thầm, làm thế nào chúng tôi có thể phân biệt sứ điệp nào không phải là lời CHÚA phán dạy? Nếu một tiên tri nhân danh CHÚA công bố một điều gì mà điều đó không xảy ra hay không ứng nghiệm, đó không phải là sứ điệp do CHÚA phán dạy. Tiên tri đó đã nói vì tự phụ. Anh chị em đừng sợ người ấy.” Phục Truyền 18:22 Kinh Thánh ghi án phạt dành cho những tiên tri dạy sai và tiên đoán sai là gì? “Nếu có tiên tri nào tự phụ nhân danh Ta nói điều gì mà kỳ thật Ta không truyền dạy, hay có tiên tri nào nói tiên tri nhân danh các thần khác, đều phải bị xử tử.” Phục 18:20
Kinh Thánh Tân Ước xác định rõ mục đích của ân tứ tiên tri: “Còn tiên tri thì rao truyền cho lương tâm loài người để xây dựng, khích lệ và an ủi.” 1Cor 14:3 Như thế mục đích của việc nói tiên tri rất gần với vai trò của người giảng Lời Chúa (Preacher) ngày nay và nhấn mạnh đến phần tuyên bố, diễn giảng Lời Chúa hơn là tiên đoán tương lai.
Theo Kinh Thánh, nói tiên tri là nói ra lời Chúa. Sứ Đồ Phê-rơ đã xác nhận rằng lời tiên tri Giô-ên đã được ứng nghiệm khi Đức Thánh Linh được đổ xuống mọi con dân của Chúa và mọi tín hữu đều sẽ nói tiên tri. (Công Vụ 2:17)
Kinh Thánh Tân Ước cũng xác nhận rằng Phúc Âm của Chúa Giê-su là một phần lời Chúa. Như vậy những chứng nhân của Chúa Cứu Thế Giê-su truyền giảng Phúc Âm về Chúa Giê-su là nói tiên tri, nói ra lời Chúa.

Ân tứ chữa bệnh
Những người chủ trương ân tứ chữa bệnh đã chấm dứt vẫn tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng; Ngài vẫn chữa bệnh bằng phương tiện bác sĩ y khoa, thuốc men hay bằng phép lạ nếu Ngài muốn. Những người này tin rằng Đức Chúa Trời đã dùng ân tứ chữa bệnh thời các Sứ Đồ để xác nhận thẩm quyền của các Sứ Đồ và Phúc Âm họ rao giảng và thời kỳ xây nền, lập móng đã xong. Ngày nay theo Kinh Thánh Gia-cơ 5:14-16 “Có ai trong anh chị em yếu đau, hãy mời các trưởng lão của hội thánh đến, để họ nhân danh Chúa xức dầu rồi cầu nguyện cho mình. Lời cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu chữa người bệnh; Chúa sẽ đỡ người ấy dậy. Nếu người bệnh phạm tội cũng sẽ được tha. Vậy hãy xưng tội với nhau và cầu thay cho nhau, để anh chị em được lành bệnh. Lời cầu xin của người công chính rất mạnh mẽ và hiệu nghiệm.” Chúa có thể sử dụng việc chữa bệnh bằng cầu nguyện và sự cầu nguyện chữa bệnh này không tùy thuộc vào quyền năng chữa bệnh của một cá nhân nhưng qua một nhóm trưởng lão hay tín hữu.
Ngoài ra theo Kinh Thánh ân tứ chữa bệnh là món quà do Đức Thánh Linh ban cho một số người theo thánh ý chủ tể của Ngài và vào thời điểm, hoàn cảnh Ngài muốn chứ không phải theo ý của người nhận ân tứ. Hay nói một cách khác các Sứ Đồ và tín hữu thời Tân Ước dù nhận được ân tứ chữa bệnh nhưng họ không hành xử như người bác sĩ nhưng chỉ làm khi nào Đức Thánh Linh cảm thúc và xức dầu cho họ thi hành ân tứ này.
Công Vụ 3:1-9 Phê-rơ và Giăng “đều chăm chú nhìn anh què từ lúc sơ sinh” và cảm nhận được sự cảm thúc của Đức Thánh Linh để chữa lành cho anh què này và họ đã làm theo.
Công Vụ 8:4-8 Phi-líp truyền giảng Phúc Âm; việc đuổi quỷ, chữa bệnh chỉ là những hành động phụ kèm theo sự truyền giảng Phúc Âm.
Công Vụ 9:36-43 Phê-rơ cầu nguyện cứu sống bà Ta-bi-tha theo yêu cầu của tín hữu. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời dạy dỗ của Gia-cơ 5.
Công Vụ 14:8-10 Phao-lô giảng đạo và thấy “anh liệt chân có đức tin có thể chữa lành được” và ông đã chữa lành cho người này.
Nói chung các sứ đồ và tín hữu thời Tân Ước đã thi hành ân tứ chữa bệnh theo sự cảm động của Đức Thánh Linh, cho những người bệnh và vào thời điểm Đức Thánh Linh chỉ định; không phải cho tất cả mọi người và bất cứ lúc nào theo ý họ muốn.
Sứ Đồ Phao-lô là người có ân tứ chữa bệnh; ông đã chữa lành người què, chữa bệnh cho cha tù trưởng đảo Man-ta nhưng ông đành chịu để người bạn thân Ê-ba-phơ-đi bị bệnh gần chết (Phil 2:25-27). Phao-lô không chữa bệnh cho môn đệ ruột của mình là Ti-mô-thê mà phải khuyên Ti-mô-thê dùng thuốc rượu (1Tim 5:23); ông phải để Trô-phim ở lại Mi-lê vì người bị bệnh (2Tim 4:20).
Điều này hoàn toàn trái ngược với những người mệnh danh là người được ân tứ chữa bệnh ngày nay. Một số những người ân tứ chữa bệnh ngày nay đã mở những chiến dịch hay đại hội chữa bệnh và buộc Đức Thánh Linh phải chữa bệnh theo thời khóa biểu họ đã định và theo ý họ muốn. Đây là một điều sai lầm phổ thông!
John MacArthur, Jr. cho rằng: “Ân tứ chữa bệnh là một ân tứ dấu hiệu tạm thời để xác nhận thẩm quyền thật của Kinh Thánh như là Lời Đức Chúa Trời. Sau khi đã xác lập thẩm quyền xong, ân tứ chữa bệnh chấm dứt.”
Những người tin rằng ân tứ chữa bệnh đã chấm dứt cũng nêu lên sự khác biệt giữa phép lạ chữa bệnh của Chúa Giê-su và các Sứ Đồ với những người chuyên môn chữa bệnh bằng đức tin ngày hôm nay.
Chúa Giê-su chữa lành hoàn toàn mọi bệnh tật công khai ngay trước công chúng; không có sự sắp xếp, dàn dựng bối cảnh hay phông quay hình như một số những người chữa bệnh bằng đức tin ngày nay.
Tất cả những trường hợp chữa lành đều vĩnh viễn, không hề bị tái phát.
Tất cả những người bệnh đến với Chúa Giê-su đều được chữa lành, không có ai phải vác nạng hay mang bệnh trở về.
Chúa Giê-su không những chỉ chữa lành bệnh thật sự, không phải bệnh tâm tưởng, nhưng Ngài cũng chữa lành những khuyết tật bẩm sinh.
Chúa Giê-su cứu người chết trong mộ bốn ngày sống lại (La-xa-rơ).
Ngày nay không có ai chữa bệnh như Chúa Cứu Thế và các Sứ Đồ thời Tân Ước vì thế ân tứ chữa bệnh đã chấm dứt.
Phao-lô, vị Sứ Đồ liệt kê ân tứ chữa bệnh nhưng ông cũng tuyên bố: “Cho nên chúng tôi không nản lòng, trái lại dù con người bên ngoài của chúng tôi bị suy tàn, con người bên trong chúng tôi cứ đổi mới mỗi ngày.” 2 Cor 4:16 Thật ra Phao-lô cho biết tất cả tạo vật đều ở trong tình trạng suy thoái đưa đến hư nát, hủy hoại (Rơm 8:20-25). Hay nói một cách khác bệnh tật là tình trạng đương nhiên của thế giới hiện tại cho đến kỳ trời mới đất mới và tất cả nhân loại đều ở trong tình trạng này, kể cả tín hữu. Người ta không phủ nhận phép lạ chữa bệnh nhưng đây là những trường hợp đặc biệt và tương đối hiếm hoi, không bao giờ là tình trạng bình thường.
Các thư tín trong Kinh Thánh Tân Ước không có mạng lệnh nào truyền cho tín hữu phải chữa bệnh. Gia-cơ khuyên người bệnh hãy mời trưởng lão của hội thánh đến xức dầu cầu nguyện cho họ; như vậy Gia-cơ giả định rằng hội thánh sẽ có người bệnh. Điều này hoàn toàn trái với một số người chữa bệnh bằng đức tin cho rằng tín hữu có đức tin sẽ không có bệnh tật.
Một người gốc Trung Đông, tiến sĩ Spiros Zododhiates thông thạo tiếng Hy-lạp Koine đã giải thích rằng dầu ô-liu thường được dùng như một loại thuốc xoa bóp và xức bên ngoài. Tiếng Hy-lạp có hai từ để chỉ về xức dầu, từ ‘chrio’(do từ này chúng ta có từ Christ) để chỉ xức dầu thánh thụ phong; từ ‘aleipho’ chỉ về xức dầu, thoa bóp trên thân thể để trị bệnh. Gia-cơ đã dùng từ ‘aleipho’ trong Gia-cơ 5:13-18.
Chúng ta đều biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng và Ngài vẫn chữa bệnh bằng phép lạ nếu Ngài muốn. Tuy nhiên Chúa đã khuyến khích con dân Chúa hãy cầu nguyện để Chúa chữa bệnh và ngay cả tha thứ tội lỗi cho người bệnh. Như thế ân tứ chữa bệnh không còn được Chúa dùng sau khi các Sứ Đồ qua đời và Kinh Thánh đã hoàn tất.
Ngày nay đại đa số những trường hợp chữa bệnh bằng đức tin và do những người chữa bệnh bằng đức tin chữa lành đều là những trường hợp bệnh tâm tưởng; một số người tưởng rằng mình được chữa lành nhưng sau đó bệnh tái phát và chết vì bệnh. Ngoài ra đã có một số bác sĩ, người điều tra một số lớn trường hợp những người tuyên bố được chữa lành cho thấy không có bằng chứng xác thực. Một vài hãng truyền hình lớn trên thế giới đã xin các người chữa bệnh trên TV cho xem bằng chứng hay chứng thư của bác sĩ chứng nhận bệnh nhân đã được lành bệnh đều thất vọng vì những người chữa bênh bằng đức tin kia đều không trưng dẫn được bằng chứng.
Vấn đề gian trá, mướn người cò mồi trong các chiến dịch chữa bệnh đã xảy ra quá nhiều làm dư luận dân chúng coi thường và ngay cả khinh bỉ đạo Chúa và những người chữa bệnh trên TV.
Tuy nhiên chúng ta không nên để cho những điều lầm lẫn, lạm dụng, giả mạo, gian trá, lường gạt để thủ lợi của một số tiên tri giả, giáo sư giả làm cho người ta phủ nhận rằng Chúa vẫn đang sống và hành động giữa vòng tín hữu và hội thánh Chúa.
Hãy cảnh giác trước những nan đề trên nhưng không phủ nhận quyền năng của Đức Thánh Linh đang hoạt động giữa chúng ta và thế giới.

Ân tứ nói tiếng lạ (ngôn ngữ mới)
Ân tứ nói tiếng lạ xảy ra tại lễ Ngũ Tuần là biến cố được biết đến nhiều nhất và trở nên một mô hình cho việc nói tiếng lạ sau này giữa vòng những người Ngũ Tuần và ân tứ. Nhưng những người theo khuynh hướng ân tứ phép lạ đã chấm dứt cho rằng sách Công Vụ là sách ghi lại biến cố lịch sử. Biến cố nói tiếng lạ tại lễ Ngũ Tuần và vài nơi khác trong sách Công Vụ chương (2, 10, 19) là những biến cố lịch sử chỉ xảy ra một lần trong lịch sử, không phải là những mẫu mực hay mô hình cho hội thánh tương lai.
Từ ngữ “glossa” Lu-ca dùng trong Công Vụ 2:4 thường chỉ về ngôn ngữ. Trong bối cảnh của lễ Ngũ Tuần “Tất cả đều đầy dẫy Thánh Linh, bắt đầu nói các ngôn ngữ khác theo như Thánh Linh cho họ nói.” Từ ngữ “ngôn ngữ khác” ở đây rõ ràng là những ngoại ngữ vì Lu-ca liệt kê những người từ mười lăm dân tộc khác nhau đã nghe và hiểu tiếng xứ mình. Từ ngữ ‘glossa’ cũng được dùng ở (Công Vụ 10:46) tại nhà Cọt-nây và tại Ê-phê-sô.( Công Vụ 19:6) Phê-rơ giải thích cùng hội thánh Giê-ru-sa-lem rằng Đức Chúa Trới đã ban cho người ngoại quốc ‘ân tứ giống như ân tứ Ngài đã ban cho chúng ta lần trước”. Như thế điều tự nhiên nhất là cả ba trường hợp trên đều nói đến ngoại ngữ.
Trường hợp ‘ân tứ tiếng lạ’ trong 1 Cor 12-14. Phao-lô cũng dùng từ ‘ glossa’(ngôn ngữ ), như vậy sự giải nghĩa bình thường nhất là Phao-lô cũng nói đến ‘các loại ngôn ngữ” hay ngoại ngữ.
Một số người Ngũ Tuần và Ân Tứ cho rằng “tiếng lạ” ở Cô-rinh-tô là “tiếng của thiên sứ” như trong 1 Cor 13:1 Nhưng ở đây Phao-lô nêu lên một trường hợp giả định không có thật. Ngoài ra khi nhìn toàn bộ bối cảnh thư Cô-rinh-tô, Phao-lô viết thư này để khuyến cáo và sửa chữa những sai lầm của tín hữu tại đây. Những tín hữu tại đây có thể tin theo một số tiên tri giả cho rằng sự sống lại đã đến và những người tín hữu thiêng liêng có thể nói tiếng thiên sứ. Nói một cách khác đây là những gì một số người tín hữu tại Cô-rinh-tô tin chứ không phải quan điểm của Phao-lô và của Kinh Thánh.
Phao-lô tuyên bố rằng “tôi nói tiếng lạ nhiều hơn hết thảy anh chị em.”1Cor 14:18 và ông trích dẫn I-sa 28:11-12 để chỉ rằng Đức Chúa Trời đã dùng người ngoại quốc, nói tiếng ngoại quốc như là một dấu hiệu để lên án những người Do Thái vô tín. Như thế ‘tiếng lạ’ ở đây là tiếng ngoại quốc và vì thế mới cần phải thông dịch.
Mác 16:17 nói đến ân tứ nói tiếng lạ, nhưng đây là ân tứ phép lạ để xác nhận thẩm quyền của các Sứ Đồ và thẩm quyền của Phúc Âm, sự mạc khải mới của Chúa cho nhân loại.
Kinh Thánh không hề dạy rằng ‘nói tiếng lạ’ là cách giúp tín hữu tăng trưởng. Tiến trình thánh hóa là một tiến trình lâu dài, do quyền năng của Chúa Thánh Linh biến đổi đời sống đạo đức của con dân Chúa để ngày càng giống Chúa Cứu Thế hơn. Sự thay đổi đời sống này không thể xảy ra vì một số trường hợp cảm xúc nhất thời. Thật ra tín hữu Cô-rinh-tô kiêu hảnh về ân tứ này nhưng họ cũng là những người tín hữu phàm tục gây nhiều nan đề và trở ngại cho việc tăng trưởng trong đời sống đức tin và hội thánh Chúa. Cô-rinh-tô là hội thánh bị Phao-lô khiển trách nhiều và nặng nề nhất trong số các hội thánh ông đã thành lập.
Mục đích của tất cả ân tứ là “vì lợi ích chung” không phải vì lợi ích cá nhân cho nên khi nói tiếng lạ trong hội thánh nhưng không có người thông dịch thì không được nói (1Cor 14:28), hay nói một cách khác, ân tứ này không hội đủ tiêu chuẩn đề làm ích lợi cho người khác và vì thế không nên thực hành.
Hiện tượng nói tiếng lạ không phải là hiện tượng chỉ xảy ra cho tín hữu nhưng hiện tượng nói tiếng lạ đã được ghi nhận từ thời triết gia Plato, giữa những người Zulus, người Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Mormon, những người đồng bóng…Như vậy hiện tượng ‘nói tiếng lạ’ cũng có thể là do ma quỷ thúc đẩy và giả dạng.
Để tránh bị hiểu lầm Phao-lô khuyên người nói tiếng lạ chỉ nên nói riêng ở nhà khi cầu nguyện riêng tư và không nói trong các buổi thờ phượng tập thể công cộng.

Mục sư Trần Đào Th.M; D.Min



Đọc Thêm

Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.